How We Learn

Bàn tròn “Đổi mới Sách giáo khoa” – Ngô Bảo Châu, Học Thế Nào

 

ĐỔI MỚI SÁCH GIÁO KHOA: HỎI VÀ ĐÁP

 

1.Tại sao 10 năm phải đổi sách giáo khoa một lần?

Không có lập luận thực sự thuyết phục cho việc đổi sách giáo khoa định kỳ 10 năm một lần. Tại sao phải đổi sách giáo khoa theo định kỳ? Nếu định kỳ thì tại sao lại là 10 năm, chứ không phải 5 năm, 20 năm hay 50 năm. Việc cần làm định kỳ là đánh giá chất lượng sách giáo khoa thông qua thực tế sử dụng.

 

2. Lấy gì làm luận cứ cho việc thay đổi sách giáo khoa?

Để làm lại sách giáo khoa, cần phải chỉ ra những nội dung nào trong sách giáo hiện hành là lạc hậu, hay thiếu chính xác, những phương pháp tiếp cận nào là không phù hợp. Để thay đổi một cái gì đó, cần phải phân tích, đánh giá chính cái mà mình muốn thay đổi. Luận cứ cho việc đổi mới sách giáo khoa chỉ có thể là kết quả của việc đánh giá chất lượng sách giáo khoa thông qua thực tế sử dụng. Kết quả này có thể cho thấy sách giáo khoa tốt rồi, không cần thay đổi gì cả, hoặc sách giáo khoa cơ bản là tốt, nhưng cần sửa sai, cập nhật ở một số chỗ nhưng không cần thay đổi cấu trúc chung, hoặc là sách giáo khoa hiện hành hỏng cơ bản, phải làm lại từ đầu.

 

3. Ai là người rà soát đánh giá chất lượng sách giáo khoa? Ai là người kiến nghị việc thay đổi sách giáo khoa?

Quốc hội, chính phủ là cơ quan quyết định việc thay đổi sách giáo khoa, nhưng những cơ quan này không thể tự kiến nghị việc này. Đánh giá định kỳ chất lượng sách giáo khoa và kiến nghị thay đổi nếu cần thiết cũng không thể giao cho những người làm sách giáo khoa, như Nhà xuất bản hay Viện khoa học giáo dục, vì họ có quyền lợi liên quan. Việc giám sát và kiến nghi thay đổi sách giáo khoa này cần được uỷ thác cho một Uỷ ban giáo dục quốc gia độc lập với các cơ quan hành chính sự nghiệp của Bộ giáo dục và đào tạo.

 

4. Nếu làm lại sách giáo khoa, thì làm sách giáo khoa trước, hay làm chương trình trước?

Trên lý thuyết thì phải có chương trình rồi mới viết sách giáo khoa, không ai xây nhà xong mới mời kiến trúc sư vẽ thiết kế. Trên thực tế, xây dựng chương trình trước khi viết sách là một việc khó, không có ai được đào tạo và có kinh nghiệm để làm tổng công trình sư cho việc xây dựng chương trình học và sách giáo khoa. Trong thực tế, chúng ta viết sách giáo khoa xong rồi mới soạn chương trình.

Những người viết sách đều biết, ít khi viết mục lục trước khi viết sách. Những người đã từng viết sách đều biết, phải bắt đầu soạn một mục lục nháp, viết một vài chương sẽ thấy mục lục không ổn, sửa lại mục lục rồi lại viết tiếp…

Việc làm sách giáo khoa phức tạp hơn nhiều vì cần có sự phối hợp của nhiều người. Phối hợp như thế nào cần được thiết kế trước. Theo thông lệ quốc tế thì cần có hai nhóm độc lập, một nhóm làm chương trình, một nhóm viết sách, nhóm làm chương trình thẩm đinh công việc của nhóm viết sách, nhóm viết sách phản biện lại nhóm làm chương trình trên cơ sở những bất cập gặp phải trong quá trình viết sách.

 

5. Tại sao không dịch nguyên sách giáo khoa nước ngoài?

Sách giáo khoa nước ngoài rất khác nhau, ở mỗi nước, các bộ sách giáo khoa thường cũng rất khác nhau. Không có luận cứ vững chắc cho việc chọn ra một bộ nào đó, coi nó là tốt nhất, thích hợp nhất với Việt Nam rồi dịch nguyên xi. Khó có thể làm khác với cách chúng ta vẫn làm từ trước đến nay là chọn ra một số bộ sách giáo khoa tốt của nước ngoài, “tích cực” tham khảo để viết ra sách cho mình.

 

6. Cần thay đổi gì nhất trong chương trình và sách giáo khoa hiện hành?

Ngoại ngữ: Chất lượng học tiếng Anh là yếu tố bất bình đẳng căn bản trong giáo dục phổ thông ở Việt Nam. Trẻ xuất thân từ các gia đình khá giả được học tiếng Anh tốt hơn nhiều.

Nhân văn: Nếu như sách giáo khoa về toán và khoa học tự nhiên của Việt nam không khác đáng kể so với sách giáo khoa nước ngoài, sách giáo khoa và chương trình về xã hội và nhân văn khác nhiều cả về nội dung và phương pháp. Hiểu biết và khả năng của trẻ Việt nam về toán và khoa học cũng không khác nhiều so với trẻ em các nước khác, nhưng hiểu biết về nhân văn và khả năng ứng xử xã hội thì lại có một khoảng cách rất lớn. Vì vây, cần có những thay đổi cơ bản trong chương trình và sách giáo khoa nhân văn, cả về nội dung và phương pháp.

Sức khoẻ, lối sống, đạo đức: Xã hội thay đổi nhanh, nhiều gia đình mất phương hướng, nhà trường phải đảm nhiệm một phần vai trò giáo dục của gia đình: trẻ em cần được học những kỹ năng cơ bản để giữ gìn sức khoẻ, những nguyên tắc cụ thể để sống chan hoà với cộng đồng.

Kỹ thuật: Cần mở rộng việc dạy lập trình từ rất sớm.

Mời các bạn tiếp tục đặt câu hỏi, thảo luận để cùng tìm ra câu trả lời.

Ngô Bảo Châu

***

HTN: Có nhiều ý kiến đóng góp rất hay, chúng tôi sẽ tổng hợp và sử dụng sao cho có ích nhất.

Advertisements

Tagged as: ,

Categorised in: Giáo dục phổ thông, Hướng cải cách

227 phản hồi »

  1. Cháu có một câu hỏi là một nền giáo dục tốt có nhất thiết phải có một bộ sách giáo khoa chung không? (Có thể cụ thể hơn trong trường hợp của Việt Nam). Cháu biết hiện tại cả nước sử dụng chung một bộ sách giáo khoa từ tiểu học đến THPT, nhưng liệu không có SGK chung có ưu điểm gì hơn không?

    Số lượt thích

    • Đối tượng giáo dục ở các địa phương rất khác nhau. Tôi nghĩ rằng nếu có nhiều bộ sách giáo khoa, từng địa phương, từng trường học có thể chọn bộ sách phù hợp với hoàn cảnh của mình nhất.

      Số lượt thích

    • Có thể có nhiều bộ sách giáo khoa và Chuẩn chương trình

      Số lượt thích

    • Em là sinh viên, đã từng được học theo bộ sách giáo khoa chung ở trường làng. Sau này, khi đi gia sư cho các em ở thành phố thì thấy, nhiều trường ở thành phố, tuy cũng sử dụng cùng bộ sách như mình ngày trước nhưng chương trình học lại khác nhiều, thường là được mở rộng ra, và hầu hết học sinh đều sử dụng những tài liệu riêng (thường gọi là đề cương) do các giáo viên tự soạn.
      Nói như thế là để chỉ ra rằng thực tế SGK hiện không quá ràng buộc ở nhiều trường, đặc biệt là ở các thành phố lớn.
      Nhưng em vẫn đồng ý việc sử dụng SGK chung bởi cần có những chuẩn kiến thức để đánh giá.

      Số lượt thích

  2. Tôi hoàn toàn đồng ý về việc cần thiết phải đánh giá nghiêm túc, khách quan, định kỳ về chất lượng sách giáo khoa hiện hành, nếu không khó có thể đổi mới đúng phương hướng được!

    Số lượt thích

    • đánh giá sách giáo khoa phải dựa trên cả việc đánh giá Chuẩn chương trình nữa

      Số lượt thích

      • Tôi thấy một việc quan trọng mà chúng ta chưa làm được là lấy ý kiến của giáo viên và học sinh về SGK. Vì thiếu đánh giá đầy đủ, khoa học, nên khi phải bảo vệ việc thay đổi SGK lập luận vướng lắm, cứ như gà mắc tóc. Lại phải bám vào nghị quyết …

        Số lượt thích

        • Riêng về môn Toán một số nội dung quá hàn lâm có nhất thiết phải đưa nó vào phổ thông không khi mà hs không lĩnh hội được gì nhiều

          Số lượt thích

        • Thưa GS, Người ta có lấy ý kiến của GV và HS về SGK đấy. Nhưng ý kiến ấy có đúng không, người trả lời có thẳng thắn trung thực không thì lại là chuyện khác. Người ta còn làm vô khối cái nghiên cứu khoa học về góp ý cho SGK. Ở các tỉnh, các trường CĐSP hay ĐHSP (nếu có) đều có các nghiên cứu, các phòng GD đều có các báo cáo dạng ấy. Nhưng có thật là nghiên cứu không? có đáng tin cậy không?
          (Bản thân tôi đã đọc kha khá những cái ấy, dự mấy cái hội nghị nghiên cứu khoa học có mấy cái ấy.)

          Số lượt thích

  3. Xin có mấy ý kiến về việc đổi mới SGK:
    1. Cách đặt vấn đề làm mới SGK của Bộ bộc lộ mấy vấn đề:
    – Thừa nhận thực tế là SGK hiện nay rất không ổn nên phải làm lại một cách cơ bản.
    – Phản ánh một tư duy lúc nào cũng muốn cách mạng chứ không muốn một sự tiến hóa vững bền
    – Giới hạn trong một dự án trong khi đây là công việc cần thực hiện thường xuyên, liên tục. Cách triển khai có vẻ giống kiểu vẽ dự án để lấy kinh phí
    2. Việc đổi mới hay nói đúng hơn là cập nhật SGK nên là một việc thường xuyên, định kỳ, tùy thuộc vào nguồn lực.
    3. Việc đổi mới nên từ quy trình làm sách, không nên chỉ vào nội dung. Từ quy trình tốt sẽ ra sản phẩm tốt.

    Số lượt thích

  4. Các câu hỏi này xoay quanh giả định “vì sao phải làm?” trong khi vấn đề nên bàn là “làm như thế nào?”. Nếu đặt câu hỏi không đúng trọng tâm sẽ hút cuộc tranh luận vào trật chỗ. Vấn đề là mọi người đều đồng ý giáo dục Việt Nam đang không làm tròn nhiệm vụ chuẩn bị cho giới trẻ vào đời, nhất là cuộc đời nhiều biến động của thế kỷ 21 thì làm sao để thay đổi tình trạng này – từ đó mới thấy thay đổi chương trình, sách giáo khoa và phương pháp giảng dạy là yêu cầu bức thiết (không còn “vì sao phải làm”, chỉ còn “làm như thế nào”).

    Trong các câu hỏi “làm như thế nào” thì câu hỏi quan trọng nhất là “làm sao thuyết phục giới có thẩm quyền chấp nhận cách làm như thế nào tốt nhất sau khi đã có sự tranh luận, rồi đồng thuận và xác định được con đường phải làm trong điều kiện của Việt Nam”. Không trả lời được câu hỏi này thì mọi nỗ lực đều vô nghĩa.

    Số lượt thích

    • Tôi không đồng ý với nhận định bi quan của bạn về “nỗ lực vô nghĩa”. Mọi chính quyền đều e ngại công luận, nhất là khi công luận được phát biểu một cách rành rọt, có lý lẽ.

      Số lượt thích

      • Khi bình luận về ý kiến này của NVP (dưới đây), ý tôi là chúng ta nên kiến nghị các nhà đổi mới giáo dục nước ta giải quyết các vấn đề theo đúng trình tự logic, “nhân-quả” của chúng, thay vì nhảy “bụp” ngay vào việc đổi mới sách giáo khoa không khi còn chưa làm rõ và đạt được sự đồng thuận các vấn đề cốt lõi, các mục tiêu xuyên suốt của lần đổi mới này.

        Dù sao thì diễn đàn này rất bổ ích cho những ai quan tâm, không hề vô ích, anh Châu ạ!

        Số lượt thích

      • tôi cũng như vậy

        Số lượt thích

    • làm như thế nào: tái cấu trúc hệ thống giáo dục.có sự liên thông phù hợp để giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực. Khi chưa nhìn rõ thế nào là 1 hệ thống tốt và phù hợp với vn thì mọi việc lại mất thời gian thôi

      Số lượt thích

    • Tôi không đồng ý. Trả lời cho câu hỏi “vì sao phải làm” là rất quan trọng, bởi nó sẽ chỉ ra các sai lầm, thiếu sót hiện nay. Từ đó mới dẫn chúng ta đến việc tìm những phương pháp hợp lý “làm như thế nào”.

      Số lượt thích

  5. Dư luận đang quan tâm đến việc đổi mới SGK nhưng chủ yếu là do lượng tiền không lồ mà Bộ GDDT đề xuất. Cũng là cái tốt vì nếu kinh phí ít hơn thì cũng không đánh thức được sự ngủ quên của dư luận về chất lượng SGK nói riêng và đào tạo nói chung. Theo tôi, có lẽ nên đặt tiền xuống sau việc làm sao để có SGK tốt. Nếu đã có những bàn thảo thấu đáo và cách đặt vấn đề hợp lý thì có đắt hơn thế dân cũng ủng hộ. Nên nhớ đồ tốt thì không rẻ. Đằng nào dân mình cũng đã chấp nhận bỏ phần lớn thu nhập gia đình cho sự học hành của con cái rồi!

    Số lượt thích

    • Muốn nâng cao chất lượng giáo dục có lẽ nên bắt đầu từ việc chọn, đào tạo và tuyển dụng giáo viên hơn là cứ lo đổi mới sgk

      Số lượt thích

      • chọn và tuyển gv là do các địa phương làm. đối với gv nên là xây dựng các chính sách đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng, đãi ngộ

        Số lượt thích

        • Đào tạo giáo viên là khâu quan trọng. Thầy không giỏi thì khó mà có trò giỏi

          Số lượt thích

        • Đúng rồi đấy ạ: phải có chính sách đào tạo, bồi dướng, sử dụng và đãi ngộ thì mới có giao viên tốt được ạ 🙂

          HTN: Đề nghị không đưa ra các ý kiến chung chung, kiểu gì cũng đúng, kiểu tập thể dục thì tốt cho sức khoẻ.

          Số lượt thích

      • Cụ thể là nên quy hoạch lại các trường đại học sư phạm trọng điểm. Dẹp bỏ các trường kém chất lượng để nâng cao chất lượng. Sinh viên sư phạm ra trường đầy không xin được việc làm mà trường sư phạm lại tràn lan.

        HTN: Anh ví dụ một vài trường kém chất lượng nhé.

        Số lượt thích

  6. Thưa giáo sư có cách nào để giữ tính ổn định của các bộ sách giáo khoa. Vì đã có quá nhiều lần thay đổi sgk quá tốn kém mà chất lượng thì vẫn không như mong đợi

    Số lượt thích

  7. Ở câu hỏi số 6, em đồng ý với ý kiến của anh rằng : chất lượng học tiếng Anh tốt cho tất cả các em học sinh là rất cần thiết, vì với sự phổ biến thông tin trên internet hiện nay, các em cần có tiếng Anh đủ để tìm, đọc và hiểu những nguồn thông tin sẵn có trên mạng phục vụ cho việc học của các em. Em không đồng ý với ý kiến của anh về những thay đổi cơ bản trong chương trình sách giáo khoa nhân văn về nội dung, vì theo em khi học sinh được cởi mở tiếp cận với thế giới qua internet hoặc qua thực tế, các ban ý cần thiết được trang bị những giá trị nhân văn cơ bản của dân tộc đúc kết trong các tác phẩm văn học Việt Nam, và trong các bài học lịch sử, để tự mình suy xét, đánh giá, so sánh, đối chiếu rút ra những hành động ứng xử cần thiết cho bản thân. Vì vậy, theo em, nội dung chương trình nhân văn là các tác phẩm văn học Việt Nam, nội dung giảng dạy về lịch sử dân tộc không cần thay đổi, với ý nghĩa của nó là học để hiểu lịch sử để rút ra những giá trị nhân văn nào cần giữ gìn ví dụ như đoàn kết chống giặc ngoại xâm, tình yêu gia đình, lá lành đùm lá rách. Nhưng đúng như anh nói điều cần thay đổi là phương pháp giáo viên hướng dẫn và các em học sinh tiếp cận, phân tích, thảo luận, trao đổi để thấm những giá trị nhân văn đó . Thêm nữa, em cũng đồng ý rằng nội dung học chương tình nhân văn cũng cần thay đối theo hướng để các em có khả năng ứng xử xã hội, đặc biệt trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh hội nhập thế giới, các em sẽ phải lao vào cuộc mưu sinh để kiếm tiền nuôi bản thân và gia đình, xã hội khi đó lại đầy những thủ đoạn, mưu mô, tranh giành, về mặt này, em thấy rất nhiều các tác phẩm văn học nước ngoài sẽ mang đến cho các em nhiều hiểu biết để các em khỏi bỡ ngỡ khi lớn lên. Giáo dục cần phải có nhiệm vụ trang bị cho các em có hiểu biết nhân văn toàn diện như trên. Em rất vui được tham gia cuộc thảo luận này.

    Số lượt thích

    • Đúng tôi không có cùng quan niệm với bạn về nhân văn. Tôi cũng nhận ra rằng quan niệm về nhân văn của mình tương đối khác với đa số. Tôi thấy rằng nếu xét đúng nghĩa của từ nhân văn thì đó là tình yêu con người, con người nói chung, chứ không phải người trong gia đình mình, trong dân tộc mình. Bên cạnh việc dạy cho trẻ những gì tốt đẹp trong truyền thống dân tộc để trẻ biết tự hào về đất nước, về dân tộc của mình, tôi thấy trẻ cần học cả những gì mà thân phận và phẩm giá của con người nói chung.

      Số lượt thích

  8. Trong Câu hỏi 6, khoa học nhân văn có thể bao gồm những môn, như Lịch sử, Địa lý, Văn chương, Văn học sử, Government (Công Dân), vv.

    Cập nhật những môn trong Lãnh vực KH Nhân Văn là khó khăn hơn cả. Lịch sử/ Địa lý cần phải đúng sự thật, không thiên vị. Văn chương cần phải thoáng, tức là cần tự do trong tư duy và tưởng tượng. Văn học sử cần bao gồm nhiều thành phần trong xã hội. Môn Government dạy về tổ chức chính quyền, từ trung ương về xã ấp. Xem thế thì Chính phủ đã làm việc hết bổn phận và trách nhiệm của mình chưa? vv.

    Tóm lại, SGK cho các môn trên sẽ tốn tiền nhất, mà cơ may thành công lại thấp. Bộ phải làm sao để vượt qua những khó khăn này?

    Số lượt thích

  9. Xin được trao đổi mấy vấn đề liên quan đến câu hỏi số 4 và số 6 như sau:

    Câu số 4: Về cơ bản tôi đồng ý với quan điểm của GS Ngô Bảo Châu. Chỉ xin nhấn mạnh vấn dề thế này:

    – Chúng ta cần minh định rõ ràng hai vấn đề “đổi mới chương trình khung trong sách giáo khoa phổ thông” với vấn đề “cụ thể hóa cái khung chương trình” ấy tức là khâu biên soạn và viết sách. Trong hai khâu này thì khâu “đổi mới khung chương trình” là khâu quyết định và quan trọng nhất. Bởi lẽ, phải làm sao xây dựng được cái khung chương trình sách giáo khoa phổ thông theo tinh thần đổi mới nhằm cụ thể hóa cái mục tiêu giáo dục chung của đề án “đổi mới căn bản toàn diện giáo dục” đặt ra là cực kỳ khó. Và càng khó hơn nữa là phải làm sao đảm bảo tuyệt đối mục tiêu “định hướng xã hội chủ nghĩa trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế”.
    Nhận thức rõ vấn đề này sẽ thấy khâu viết sách giáo khoa mới trên cơ sở chương trình khung đã thống nhất thực ra không tốn nhiều công sức, thời gian và tiền bạc. Và nhất là nếu Bộ mạnh dạng xã hội hóa vấn đề trên nhằm huy động cũng như tạo điều kiện cho mọi tổ chức cá nhân tham gia vào việc viết sách sẽ tiết kiệm rất nhiều kinh phí cho Nhà nước.

    Riêng với trường hợp môn Ngữ văn, cần quan tâm xem xét kinh phí cho việc chi trả tiền nhuận bút, tác quyền cho những nhà văn, nhà thơ, nhà báo… (hay gia đình họ – trường hợp nhà văn nhà thơ đã qua đời) có tác phẩm được chọn vào giảng dạy hay để làm văn liệu, ngữ liệu cho bài học nào đó. Vấn đề này không thấy đề cập trong “đề án đổi mới chương trình và SGK” của BGD.

    Câu số 6:

    Câu hỏi số 6:

    Về vấn đề giáo dục “Sức khoẻ, lối sống, đạo đức” cho các em học sinh, xin mạo muội đề xuất như sau:

    Cá nhân tôi nghĩ để hình thành giá trị đạo đức công dân cho các em vấn đề quan trọng nhất là phải bắt đầu ở cấp tiểu học.Tuy nhiên việc biên soạn những bài học đạo đức có tính chất khởi đầu là vấn đề không dễ dàng gì.Trong hoàn cảnh hiện nay, để tiết kiệm thời gian tiền bạc và công sức tôi đề nghị các nhà quản lý giáo dục hãy gạt bỏ quan điểm và định kiến chính trị nhằm tận dụng chất xám (cũng là bảo vệ gìn giữ di sản văn hóa tinh thần) của cha ông thời trước. Trên tinh thần này, tôi đề nghị nên nghiêm túc nhìn nhận và xem xét sử dụng lại hai bộ sách có tên gọi “Quốc văn giáo khoa thư” và “Luân lý giáo khoa thư” do học giả Trần Trọng Kim và các đồng sự biên soạn dành cho học sinh cấp tiểu học mà họ phân ra thành các lớp “đồng ấu”, “dự bị” và “sơ đẳng” ở trước đây (gần đây Nhà xuất bản Trẻ cũng đã cho tái bản hai bộ sách này). Bộ sách này cũng là di sản tinh thần quý báu trong tâm thức nhiều thế hệ học giả và trí thức nước nhà trước đây (liên quan đến vấn đề này cố nhà văn nổi tiếng Sơn Nam có viết một truyện ngắn mang tên “Tình nghĩa giáo khoa thư”).

    Theo quan điểm của cá nhân tôi, đây là bộ sách rất hay để giáo dục cho các em nhỏ về những giá trị đạo đức, truyền thống văn hóa người Việt ngay khi các em biết đọc biết viết.
    Chúng ta nên tận dụng các bài học trong 2 bộ sách này để thiết kế và biên soạn thành những bài học trong môn giáo dục đạo đức công dân cho học sinh. Dĩ nhiên, do sự biến chuyển của thời gian và xã hội có không ít những bài học, câu chữ trong các bài học ở hai bộ sách trên không còn phù hợp với thời đại ngày nay nữa. Tuy vậy nhìn chung đó chỉ là số ít và nếu sử dụng lại chúng ta hoàn toàn có thể lựa chọn hoặc chú giải, chú thích thêm cho phù hợp với tình hình và điều kiện mới hiện nay.

    Xin đơn cử một số bài học rất ngắn gọn, súc tích nhưng giàu ý nghĩa nhân văn như: “Yêu mến cha mẹ”, “Ăn uống có lễ phép”, “Đứa trẻ có lễ phép”, “Đi phải thưa về phải trình”, “Thờ cúng tổ tiên”, “Học trò đối với thầy”, “Sớm tối thăm nom cha mẹ”, “Mùa cấy”, “Mùa gặt”, “Bịnh ghẻ”, “Mùa mưa”, “Mấy điều cần cho sức khỏe”…
    Xin chép ra đây toàn bộ nội dung cụ thể một bài học có nhan đề “Đi phải thưa về phải trình” dành cho các em thuộc lớp “đồng ấu” (gồm ba phần nội dung chính ghi lại câu chuyện bài học và hình vẽ minh họa, phần giải nghĩa từ ngữ khó và phần bài tập) để bạn đọc có cái nhìn cụ thể hơn về vấn đề tôi vừa nói:

    Bài học:
    “Đi phải thưa về phải trình”

    “Trước khi anh Giáp đi đâu, anh cũng xin phép cha mẹ có cho anh đi anh mới dám đi. Đến lúc về anh lại trình cha mẹ rằng anh đã về. Như thế là anh Giáp biết giữ lễ phép với cha mẹ, đi phải thưa về phải trình”.
    Giải nghĩa:
    Trình = nói với người trên là mình có việc gì hay làm việc gì.”
    Bài tập:
    Học tiếng: Đi đâu, xin phép, về, trình, lễ phép
    Đặt câu: Anh…mà vội thế?
    Cha ra đồng đã…rồi.
    Con phải giữ…với cha mẹ
    Hãy đợi đấy, để tôi về…cha mẹ tôi đã
    Em hứa…cha mẹ chưa mà đã dám đi?”

    Số lượt thích

    • Về đạo đức mà học từng bài cụ thể thì học cả đời chả hết.
      Cái gốc là cách cư xử của người lớn. Người lớn quanh chúng mà tốt chúng dễ dàng tốt. Nếu không thế, khi mà nhà trường dạy thế này, chúng lại nhìn thấy cái khác ở ngoài thì những bài giảng sẽ trở thành dối trá, giáo điều và phản tác dụng. Không thể bỏ vai trò của gia đình và XH. “Con dại cái mang” không chỉ có nghĩa là con cái dại thì bố mẹ cưu mang mà còn nghĩa con cái làm điều dại dột bố mẹ phải mang tiếng, phải chịu trách nhiệm.

      Số lượt thích

  10. Thưa GS NBC, em muốn đặt một câu hỏi, mà chỉ sợ GS không muốn trả lời !!

    Con trai em hồi học lớp 5e, chắc là tương đương lớp 7 bên mình, học toán rất là xuất sắc, về VN khoe. Sau đó thì nó trở thành trò cười cho tất cả mọi người, vì thằng anh họ nó học cùng trình độ làm các bài toán nhân chia nhiều chữ số bằng tay rất nhanh và đúng, còn nó thì làm sai be bét. Cậu ấy chữa thẹn bằng cách đố anh mình bài toán là cho một đường tròn, làm sao tìm ra tâm của nó, ông anh quý bí mãi không biết giờ này đã giải ra chưa.

    Em cũng nghe nói rằng là học sinh sinh viên VN mình thiếu sáng tạo, thiếu linh hoạt so với tụi nhỏ nước ngoài. Kết hợp hai sự kiện ấy, thì em cho rằng việc dạy học toán và khoa học tự nhiên nói chung của VN mình chắc cũng không phải là không khác đáng kể so với thế giới như GS nói. Chắc cũng phải có một cái gì đấy rất là cơ bản cần phải thay đổi, chứ không phải chỉ có thay đổi bên xã hội nhân văn thôi.

    Số lượt thích

    • “Cho một đường tròn làm sao tìm ra tâm của nó?”
      Theo tôi thì làm như thế này: Lấy ba điểm A, B, C trên đường tròn rồi vẽ hai đường trung trực của AB và BC, giao của hai đường này là tâm đường tròn.
      Với cách làm trên thì học sinh lớp 7 ở VN hiện nay chưa được học. Chẳng hay bạn có cách làm nào khác chăng?

      Số lượt thích

  11. Và tại sao sau bao nhiêu năm cứ nhất định phải quản lý chương trình sách giáo khoa? Có rất nhiều, rất nhiều điều tốt đẹp, mới mẻ, tiến bộ đã thấy và sẽ khám phá do những người Thầy người Trò. Điều này những nhà quản lý chắc chắn cũng biết rõ, nhưng như thế sẽ thành giáo dục khai phóng mất.

    Số lượt thích

    • cái khung chương trình hay chuẩn chương trình để thống nhất trong giáo dục của một quốc gia. Thầy được quyền sáng tạo trên cái khung đó

      Số lượt thích

      • Ý kiến nào của đồng chí Mai Hiên cũng hay tuyệt cú mèo ạ 😀

        HTN: Tạm biệt.

        Số lượt thích

      • Cảm ơn lời giải thích rất chuẩn. Hiểu ngay lập tức vì mình có nhiều bạn được phân căn hộ tập thể. Tam đại đồng đường thoải mái phát huy trong (trên?) cái “khung” nhà được cấp từ cuối thập niên 70 thế kỷ trước. Tiếp theo là chống gậy đi tìm lời giải đáp cho câu đố. Mục đích sáng tạo trong giảng dạy, học tập là gì. Xin đừng ai nói là để định hướng tiến lên CNXH vì câu đó…. tôi biết rồi.

        Số lượt thích

  12. Có ý kiến cho rằng tất cả là do “vận động hành lang” của NXBGD, mọi việc xuất phát từ nhu cầu “tìm việc” độc quyền cho NXB này và dĩ nhiên những lợi ích nhóm ẩn chứa sau đó. Giáo sư có nghĩ đó là ý kiến đúng?

    Số lượt thích

    • Đây là ý kiến mà tôi tâm đắc, Phải làm một khung chương trình chuẩn. Căn cứ vào khung chương trình đó, các nhóm tác giả, các công ty sách lựa chọn Tg để biên soạn bộ sách. Nơi nào có bộ sách hay, đáp ứng được nhu cầu tất sẽ được lựa chọn. Như vậy xoá bỏ được độc quyền và có lẽ cũng sẽ phù hợp với vùng miền hơn.

      Số lượt thích

    • Tôi cũng chỉ như bạn, đoán già đoán non là có “vận động hành lang”. Nhưng tôi tin đây cũng chỉ là một trong nhiều nguyên nhân.

      Số lượt thích

  13. “Kỹ thuật: Cần mở rộng việc dạy lập trình từ rất sớm.”

    Tôi tự hỏi làm sao việc “lập trình” lại có thể được coi như một yếu tố quan trọng đứng về phương diện giáo dục để phát triển kĩ thuật? Xét về khía cạnh giáo dục (chủ đề đang bàn) thì có nhiều điểm khác quan trọng hơn chuyện “lập trình” rất nhiều trong việc phát triển kĩ thuật: kích thích tìm hiểu, khuyến khích trí sáng tạo, phương pháp & công cụ giáo dục gắn liền thực tế,…

    Số lượt thích

    • Cảm ơn bác đã bổ sung. Tôi chỉ nêu “lập trình” như một ví dụ. Tuy vậy, tôi tin rằng cách mạng thông tin còn chưa dừng ở đây, người dân nước nào có khả năng về công nghệ thông tin (cụ thể là lập trình), nước đó sẽ có ưu thế cạnh trành trong kinh tế.

      Số lượt thích

  14. Góp ý cho Bàn tròn Học thế nào – Đổi mới SGK ?

    Đổi mới trong giáo dục là một vấn đề không phải chỉ đặt ra cho nước ta mà cho tất cả các nước. Đổi mới thường xuyên. Đổi mới để tốt hơn, để hiệu quả hơn, để thích hợp hơn với tình cảnh xã hội và tình cảnh thế giới. Đổi mới để giáo dục không thành một khủng long ở thời @.

    Đối với ta, đổi mới còn cấp bách hơn nữa vì giáo dục là một trong những cấu thành của phát triển.

    Dĩ nhiên, để đổi mới một cách «hữu hiệu» – hữu hiệu được đặt trong dấu ngoặc vì nó có thể có nhiều nghĩa nhưng tạm thời ta dùng chữ hữu hiệu trong một nội dung khiêm tốn: hữu hiệu là làm những gì cấp bách nhất trong giới hạn khả năng hiện thời – phải biết một cách cặn kẻ tình thế và nhu cầu. Hai điều này nghe có vẻ đơn giản nhưng nhiều khi ta chưa biết một cách có ngọn có ngành. Rất cần một état des lieux (tức là một nghiên cứu về hiện trạng).

    Tại sao bắt đầu bằng đổi mới sách giáo khoa hay đổi mới cách thi cử. Tức là hai đổi mới ta đang thực hành ?

    Trong một chừng mực nào đó, cách làm của ta có thể hiểu được.
    Thì cứ làm đi, để tạo đột phá – dù không lô-gích.

    Thật vậy, theo lý thuyết, đánh giá, hay thi cử, là tùy theo cách dạy – đó là thành phần của đào tạo (để biết kết quả của đào tạo và để hoàn thiện, tiếp tục công trình đào tạo).

    Sách giáo khoa cũng thế. Đó là một công cụ cho giáo dục. Sách giáo khoa vừa tải nội dung vừa «dịch» hay cụ thể hóa những phương pháp sư phạm. Thay sách giáo khoa là một công hai chuyện, thay đổi vừa nội dung các môn học vừa phương pháp dạy.

    Thông thường thay đổi thi cử hay thay đổi sách giáo khoa lúc chưa thay đổi những … nền tảng, có thể là những thay đổi không cho kết quả chờ đợi.

    Theo lô gích, muốn thay đổi, dĩ nhiên phải đi từ lý thuyết, từ cái tổng quát nhất cái nền tảng nhất.

    a. Tại sao phải học và tại sao phải dạy ? Tức là muc tiêu và triết lý của giáo dục.

    b. Phải học cái gì ? Nội dung chương trình

    c. và cuối cùng Học thế nào ? Hay phương pháp sư phạm trong đó có sách giáo khoa.

    Nhưng chia chương trình đã nằm trong phương pháp sư phạm nên hai giai đoạn chương trình và phương pháp sư phạm có thể đồng hành.

    Như vừa nói trên, sách giáo khoa nằm trong phương pháp sư phạm, là một công cụ để dạy, giúp ta chuyển tải nội dung chương trình và là cơ sở cụ thể để học trò đở phải chép bài, …

    Bắt đầu từ đây, xin dựa theo thứ tự các vấn đề nêu lên bởi gs Ngô Bảo Châu:

    1. 2.3. Tại sao 10 năm phải đổi sách giáo khoa một lần? Ai đổi, …

    Phải đổi sách giáo khoa vì phải cập nhật. Khoa học tiến bộ không ngừng, kể cả khoa sư phạm. Nhưng không hẳn 5 hay 10 năm một lần. Thay đổi khi cần, khi sách không còn up to date hay hợp thời.

    Ở những nơi mà sách giáo khoa được chọn bởi trường học hay bởi giáo viên – vì chương trình chỉ là chương trình khung – thì sự thay đổi sách giáo khoa được làm … không kèn không trống… Khi thay đổi thì có thể chỉ thay đổi từng phần chứ không nhất thiết phải thay đổi toàn bộ sách giáo khoa.

    Riêng bản thân người viết những dòng này, với quan niệm theo đó «không thể dạy một cách bất di bất dịch bất cứ điều gì, cho bất cứ ai, vào bất cứ hoàn cảnh nào, …» thành ra nội dung, phương pháp sư phạm, sách giáo khoa, … được chọn và thay đổi tùy học trò, tùy lớp và tùy thời gian, không gian…

    4. Thay đổi chương trình trước hay thay đổi sách giáo khoa trước ?

    Trong trường hợp chương trình chung ấn định và bắt buộc bởi Bộ Giáo dục, thì có lẻ sách giáo khoa phải được soạn và thay đổi tùy theo chương trình. Dĩ nhiên, giữa tập thể soạn chương trình và tập thể soạn sách giáo khoa có những liên hệ mật thiết.

    Có thể thêm vào một diễn viên thứ ba: tập thể người đi dạy đứng lớp.
    Kinh nghiệm những người này vô cùng quan trọng. Có thể tưởng tượng rằng tập thể những người đi dạy, đã dùng sách giáo khoa, bày tỏ góp ý về những ưu khuyết điểm của một sách giáo khoa nào đó hay của một chương trình nào đó. Vì giáo viên gần với học trò và thấu đáo hơn ai hết những như cầu và chờ đợi của học trò. Những feed back này rất quí giá, chúng thể hiện tiếng nói của cơ sở và từ cơ sở.

    5. «Rinh về» và dịch sách giáo khoa nước ngoài ?
    Tại sao không, nếu hợp tình hợp cảnh được với thực địa bên ta. Cho trường hợp các sách giáo khoa đã chứng tỏ giá trị khách quan của chúng. Chẳng hạn một số sách về Toán, về Vật lý Hóa học hay về Sinh học. Các sách về cổ ngữ nữa.

    Ngày xưa những người thuộc thế hệ 1950-1970 ở miền Nam học Anh văn với Let’s learn English hay English for Today hay học Pháp văn với bộ sách Langue et civilisation française của Mauger, hoàn toàn không có vấn đề.

    Nhưng cho các môn về văn chương và khoa học xã hội có lẻ là phải suy nghĩ khác.

    6. Cần thay đổi gì nhất trong chương trình và sách giáo khoa hiện hành?

    Câu hỏi có vẻ giản dị nhưng khó trả lời vô cùng vì cần nghiên cứu nhiều yếu tố trước khi trả lời. Lại không có một câu trả lời duy nhất cho tất cả các chương trình hay sách giáo khoa, cho tất cả các độ tuổi và tất cả các vùng miền.

    Chỉ xin có vài ý đơn lẻ:

    a. Ít nhất là cho trẻ 6-12 tuổi, ở bậc Tiểu học, cần phá vở các ranh giới giữa các môn học và khai thác các chủ đề một cách tổng hợp. Các hiện tượng ở chung quanh các em là những tổng thể chứ không phải là sinh học, toán học, sử học… Như vậy cụ thể hơn, dễ tiếp cận hơn và dễ nhớ lâu hơn cho các em – học để biết và học để làm ấy mà.

    b. Cho thêm, và vấn đề này tối quan trọng, giáo dục môi trường xã hội (éducation hay éveil à l’environnement social) ở tiểu học hay xã hội học (sociologie) vào chương trình trung học để các em thêm khả năng giải mã các hiện tượng của môi trường và để các em sống chung với nhau – một trong những chủ đích mà UNESCO đề ra.
    Kinh tế thị trường, toàn cầu hóa, Facebook, quảng cáo, truyền thông tiếp thị, …những hiện tượng như thế ta không chuẩn bị cho các em thì trông cậy vào ai khác ?

    c. Tập tành cho các em, từ lúc còn rất nhỏ, ngay ở trường mẫu giáo, những cách tiếp cận «khoa học» là gieo mầm nghiên cứu khoa học, là chống tiên kiến, là ngừa kỳ thị, …Cụ thể, cách trình bày và nội dung của từng chủ đề trong các sách giáo khoa phải khoa học và có dẫn chứng.

    d. Đem giáo dục đạo đức vào chương trình. Bình đẳng xã hội, bình đẳng giới tính, tự do, dân chủ, … Không dưới dạng những bài học khô cứng mà bàng bạc qua cách khai thác bất cứ đề tài nào.

    e. Giao cho giáo viên một «vùng tự do co giản» trong nội dung, trong phương pháp, … để tùy cơ ứng biến áp dụng sách giáo khoa và chương trình theo sở trường của mình và theo nhu cầu của học trò. Rộng hơn nữa, và điều này nằm trong «phương pháp» sư phạm, đề cao những liên hệ bình đẳng giữa thầy và trò – vì áp đảo trong giáo dục là phản giáo dục.

    Nguyễn Huỳnh Mai

    Số lượt thích

    • Tâm đắc nhất với cái ý thứ 5 của Bác Huỳnh Mai “Rinh về”.
      Nhiều bậc phụ huynh được yên tâm sau mười hai năm học PT lại có một phen bối rối, khi con không đủ điểm vào trường đại học công. Ngoài “Trường Cán bộ Đội Lê Duẩn” có những tiêu chuẩn nhất định, các bậc phụ huynh có thể cho con vào học các trung tâm đào tạo lập trình viên, viết trương trình game, nhiếp ảnh v.v.
      Cứ mỗi mùa tuyển sinh, lại thấy nhiều nhà bố dắt con đi tìm mua máy ảnh phim (đã ngừng sản xuất). Theo chương trình, học viên sẽ học về máy ảnh chụp phim. Phải học từ căn bản, thời nền phim ảnh mới phát minh. Cũng là do máy ảnh KTS nhiều thầy chưa quen và “chương trình khung” là vậy.
      Tài liệu thiết bị khoa học được mua, được tặng, được viện trợ phục vụ cho công tác giảng dạy bị cất vào kho là điều rất phổ biến ở nhiều nơi và nó diễn ra trong một thời kỳ quá dài.
      Để đào tạo ra một người với các đức tính, vừa giỏi chuyên môn, sẵn sàng nhận nhiệm vụ, tuân lệnh cấp trên, không đòi hỏi lương cao v.v. vẫn là một công việc vô cùng khó khăn.

      Số lượt thích

  15. về cơ bản tôi đồng ý với các ý kiến của GS Ngô Bảo Châu. tôi xin nêu thêm một số câu hỏi sau:
    1. Tại sao đổi mới căn bản toàn diện lại tập trung vào phổ thông là chính mà không phải là đại học?
    2. Muốn phát triển kinh tế của VN hiện nay cần những loại nhân lực nào? cần phải cơ cấu lại ngành nghề đào đạo, cơ cấu lại trình độ đào tạo như thế nào?
    3. Việc phân luồng học sinh sau trung học nên phân luồng từ THCS hay THPT và tại sao?

    Số lượt thích

    • Tôi cũng nghĩ như anh (chị) Mai Hiên rằng sách giáo khoa không phải là vấn đề nổi cộm nhất của giáo dục Việt nam. Chất lượng giáo dục đại học có lẽ là vấn đề nghiêm trọng hơn. Tuy nhiên, bàn tròn này tập trung vào chuyên chương trình và SGK vì đó là câu chuyện của tuần này. Câu chuyện phân luồng, dạy nghề, chất lượng giáo dục dại học, xin gác lại một hôm khác.

      Số lượt thích

      • Cảm ơn Gs. Thực ra tôi đặt câu hỏi đó là muốn nói tới vấn đề nếu chưa tính đến việc phân luồng sau THCS hay THPT thì bàn về sgk e rằng chưa thấu đáo. vì vd nếu setup các luồng học sinh theo các hướng khác nhau và tạo điều kiện cho các em phát triển trên năng lực của các em thì bài toán sgk cần bàn thêm như thế nào?

        Số lượt thích

  16. Rất đồng tình với ý kiến của GS. Tuy nhiên, ở VN hiện nay giữa nói và làm thực sự là một vấn đề. Mấy ô Đảng, QH & CP cần coi đây là nhiệm vụ trọng tâm, công minh, giao đúng người đúng việc.
    Để và là người khởi xướng, GS có thể nói cụ thể hơn Uỷ ban GD QG độc lập được thành lập ra sao, thành phần (Uỷ viên) thế nào…
    Xin cảm ơn và chúc GS mạnh khỏe, có nhiều đóng góp cho nước nhà và Toán học.

    Số lượt thích

    • UB GD QH độc lập này sẽ đánh giá, đề xuất việc đổi mới: từ luật, làm luật cho đến các chương trình hành động cải cách cụ thể; đồng thời phải hiểu đây là Dự án (Project) được tổ chức, quản lý chuyên nghiệp (PMO)

      Số lượt thích

      • Theo tôi hiểu, để ra nghị quyết, Đảng cũng có thành lập ban tư vấn. Những ban tư vấn thường thì cũng bao gồm những người tâm huyết. Tuy vậy nó không có tính “chính danh”. Nếu có tính “chính danh” tự mình chịu trách nhiệm với việc làm của mình trước công luận, chắc sẽ đóng góp tích cực hơn nhiều.

        HTN: Bắt quả tang GS bảo Đảng ‘làm chui’ nhé 🙂

        Số lượt thích

        • Vâng, nếu cải cách ngành hay một vấn đề hệ trọng thì ô Đảng ra nghị quyết trước. Ở đây là đổi mới SGK nên Chính phủ làm là đúng rồi. Về thể chế thì đúng như GS nói là lập UB GĐ QG độc lập, rồi lập Ban QLDA (có tư vấn trong hay ngoài nước, có “nhà thầu” triển khai, có giám sát, có chia thành các “tiểu dự án” vì nhiều cấp học, giáo trình…)

          Số lượt thích

        • DANH SÁCH

          HỘI ĐỒNG QUỐC GIA GIÁO DỤC VÀ PHÁT TRIỂN NHÂN LỰC NHIỆM KỲ 2011 – 2015
          (Ban hành kèm theo Quyết định số 1138/QĐ-TTg ngày 16/7/2013 của Thủ tướng Chính phủ)

          1. Ông Nguyễn Tấn Dũng, Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch;

          2. Ông Nguyễn Thiện Nhân, Phó Thủ tướng Chính phủ, Phó Chủ tịch;

          3. Ông Phạm Vũ Luận, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, Ủy viên Thường trực;

          4. Ông Nguyễn Khắc Định, Phó Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ, Ủy viên;

          5. Ông Đinh Tiến Dũng, Bộ trưởng Bộ Tài chính, Ủy viên;

          6. Ông Bùi Quang Vinh, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ủy viên;

          7. Ông Nguyễn Thái Bình, Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Ủy viên;

          8. Bà Phạm Thị Hải Chuyền, Bộ trưởng Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, Ủy viên;

          9. Ông Nguyễn Quân, Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ, Ủy viên;

          10. Ông Châu Văn Minh, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Ủy viên;

          11. Ông Nguyễn Xuân Thắng, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, Ủy viên;

          12. Ông Nguyễn Mạnh Cầm, Chủ tịch Hội Khuyến học Việt Nam, Ủy viên;

          13. Ông Đinh Quang Báo, Giáo sư, Tiến sĩ, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Ủy viên;

          14. Ông Nguyễn Minh Đường, Giáo sư, Tiến sĩ khoa học, Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam, Ủy viên;

          15. Ông Nguyễn Trọng Giảng, Hiệu trưởng Trường Đại học Bách khoa Hà Nội, Ủy viên;

          16. Ông Phùng Xuân Nhạ, Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, Ủy viên;

          17. Ông Phan Thanh Bình, Giám đốc Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, Ủy viên;

          18. Ông Đặng Xuân Hoan, Trợ lý Phó Thủ tướng kiêm nhiệm làm Tổng Thư ký Hội đồng.

          Số lượt thích

        • Cảm ơn GS hahuykhoai. Hoá ra cũng có Hội đồng giáo dục quốc gia. Nhưng Hội đồng có đến một nửa nội các thì làm thế nào mà có tiếng nói độc lập nhỉ?

          Số lượt thích

        • Đảng ban hành được một Nghị quyết chuyên đề như thế là mừng quá rồi, anh Châu. Vấn đề là cơ quan thực hiện sẽ làm được bao nhiêu % các yêu cầu đặt ra. Bao nhiêu % của yêu câu đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục ấy mà. Căn bản thế nào? Toàn diện thế nào?

          Số lượt thích

      • Tôi chưa thấy Bộ GD-ĐT hay những người có thẩm quyền liên quan tư duy và thực hiện tốt theo hướng này, cứ trình lên một bản ĐX với con số khủng và thiếu thuyết phục thì chỉ tạo sóng dư luận (rồi tính tiếp)
        Cải cách ngành thì tiếp cận khác, cải cách SGK thì cứ lấy cách Quản lý Dự án cụ thể (theo chuẩn mực, thông lệ ưu việt) ra mà làm thôi. Chứ cứ bàn các Nội dung, tình tiết cụ thể, tản mạn sẽ ko hiệu quả.

        HTN: Con số, ví dụ 34 ngàn tỷ, theo thông tin của HTN thì là con số chính phủ chưa có ý kiến mà Bộ GD ĐT đã đưa ra Quốc Hội. Có lẽ PTT sẽ có ý kiến sớm về việc này (thể ngay tuần sau).

        Số lượt thích

        • Cảm ơn thông tin của GS Khoái v/v thành lập HĐ QG về GĐ và Nhân lực (7/2013). Theo tôi vừa tìm hiểu, sau HĐ là lập UBQG về Đổi mới GĐ (3/2014), có Chương trình hành động và Đề án đổi mới SGK. Như vậy cac thể chế cao nhất là có rồi (đủ bộ lễ nhưng là của CP nên sẽ dễ bị cồng kềnh, triển khai chậm và không đôc lập). Sau Đề án mới đến các Dự án cụ thể. Hy vọng họ làm sớm, tiếp thu ý/k của các Chuyên gia, giáo viên, học sinh…, tổ chức thuc hiện hiệu quả (với tầm nhìn, sứ mệnh, mục tiêu (kèm KQ đo lường đươc), phạm vi, truyền thông, kế hoạch, tài chính, nhân sự dự án, tư vấn, nhà thầu… bài bản).

          Số lượt thích

  17. Câu 1 : Dạ ví dụ bên Pháp thì họ cho học sinh mượn sách giáo khoa, cuối năm trả lại, năm sau cho mượn tiếp, thì họ cho rằng một đời SGK kéo dài khỏang 4 năm là vừa (sau đó thì nó te tua). Nhưng đấy là SGK chứ không phải là chương trình khung ạ !

    Còn về bên Toán thì tôi không rõ, chứ còn bên Văn thì ý tưởng một cuốn sách văn học cứ xài miết thì thật là kinh khủng. Nó mất đi tính đa dạng và sống động. Cứ như thể là chỉ có bấy nhiêu nhà văn và bấy nhiêu tác phẩm là đáng đọc, số còn lại thì chìm vào quên lãng. Rồi còn những nhà văn mới nổi, những phương pháp nghiên cứu mới nữa chứ ! Cho nên cái câu hỏi của GS nó làm tôi buồn quá ! Đấy còn chưa kể thầy cô làm biếng nữa thì ôi thôi ! Họ sẽ học thuộc làu cuốn sách và bài giảng của họ, tụng đi tụng lại hàng năm, khiến tất cả mọi người chán điên lên !

    Số lượt thích

  18. Câu 5 : Dịch SGK nước ngoài cũng tốt ạ, vì ta sẽ có thêm sách để tham khảo, biết được ở nước ngoài người ta học cái gì, học như thế nào (nhưng sợ là phải trả thêm tiền bản quyền). Điều này rất là quan trọng vì thường là ta hay ảo tưởng về nước ngoài, và tự ti về mình (ví dụ như có người có thể nghĩ rằng, SGK Văn học của nước ngoài viết hay, thì học sinh của họ phải thích học văn, nhưng thực tế không phải như vậy đâu ạ, học sinh Pháp cũng ít em thích học văn lắm, cô chúng nó cũng buồn phiền lắm!). Nhưng ta không nên bê nguyên xi như vậy mà dùng.

    Số lượt thích

  19. Câu 6 : Về SGK ngoại ngữ thì tôi vẫn băn khoăn nhiều. Người Pháp (và hẳn là người Anh, Mỹ), không phải là những dân tộc giỏi ngoại ngữ, bởi vì người ta học tiếng của họ chứ họ không học tiếng của người ta. Cho nên là sách dạy ngoại ngữ của người Pháp chẳng hạn, thì đẹp, hấp dẫn, thú vị, nhưng mà không hiệu quả. Ngoại ngữ là một môn phải thực tập rất nhiều, đặc biệt là kỹ năng nghe hiểu. Cho nên vài bài nghe bé tí xíu trong một cái giáo trình thì chỉ đủ để làm duyên mà thôi. Hồi xưa tôi cứ đi tìm hoài những bài luyện nghe đa dạng, theo nhiều chủ đề, theo nhiều trình độ, mà thấy cũng hiếm hoi lắm. Tôi chỉ mong là trên Truyền hình có chương trình học tiếng nước ngoài hàng ngày, thì may ra trẻ em ở quê mới được tiếp cận với ngoại ngữ. Tôi cũng muốn có những cuốn sách bao gồm những bài đối thoại hơi dài một chút, mỗi bài một trang chẳng hạn, thì người học chỉ việc học thuộc lòng những bài ấy là họ sẽ giao tiếp tốt.

    Số lượt thích

  20. Vào thời gian tiến hành bàn tròn trực tuyến thì ở bên Pháp mọi người sẽ đang ngủ say sưa, cho nên rốt cuộc là tôi không tham gia trực tiếp được. Tôi xin kính chúc GS NBC và các bạn thảo luận hăng say, vui vẻ, đóng góp được nhiều ý tưởng hay, mới và xác đáng cho Bộ GD.

    Số lượt thích

  21. Chương trình giáo dục phổ thông hiện nay (và gần đây) của Việt Nam mà phần thể hiện cơ bản của nó là bộ sách giáo khoa (duy nhất) do Bộ Giáo dục và Đào tạo (BGDĐT) chủ trì có thể giúp ích được gì cho việc phát triển các năng lực cơ bản và quan trọng liên quan tới tư duy và học tập, hướng tới giúp người học trở thành người có khả nắng học tập suốt đời một cách hiệu quả ở các giai đoạn tiếp theo?

    Các năng lực tư duy và học tập của thế kỷ 21 được một số nơi xác định gồm các năng lực: critical thinking (tư duy phản biện), creativity and innovation (sáng tạo và đổi mới), cooperation and communication (hợp tác và giao tiếp). Theo những gì tôi đã trải nghiệm qua 12 năm học phổ thông tại Việt Nam, thì chương trình GD PT VN và bộ SGK đã thất bại lớn trong việc giúp người học hình thành các năng lực và kỹ năng nêu trên. Thực tế cho thấy về kiến thức có thể HS VN không thua kém nhiều so với các bạn HS ở các nền GD phát triển (đặc biệt về toán và tự nhiên như GS Châu nói), nhưng năng lực của một người học hiệu quả thì thua kém rất nhiều. (Có thể ngoại trừ tố chất chăm chỉ, chịu khó “cày cuốc”).

    Tôi cho rằng, việc cải cách giáo dục nói chung và đổi mới SGK nói riêng cần phải đảm bảo tiêu chí này, đó là giúp người học hình thành và phát triển các năng lực tư duy, học tập cần thiết cho các bậc học và giai đoạn phát triển cá nhân tiếp theo. Trong đó tôi đặc biệt nhấn mạnh năng lực tư duy phản biện và sáng tạo giải quyết vấn đề.

    Anh/chị và các học giả nào có kinh nghiệm và hiểu biết về các hệ thống giáo dục phổ thông ở các nền GD phát triển có thể giúp chia sẻ và trả lời về vấn đề này được không? XIn cảm ơn.

    Bùi Trần Hiếu (UNSW)

    Số lượt thích

    • Tôi thấy nhận xét và ý kiến của HieuBui là chuẩn xác. Nếu muốn sửa tận gốc, tôi nghĩ cần đi trình tự qua các bước “nhân-quả” như tôi đề xuất. Nhảy “bụp” ngay vào sách giáo khoa không thể giải quyết được các bất cập của nền giáo dục hiện nay.

      Số lượt thích

    • Hy vọng rằng việc thay đổi trong chường tình và SGK sẽ hướng tới những “năng lực” critical thinking (tư duy phản biện), creativity and innovation (sáng tạo và đổi mới), cooperation and communication (hợp tác và giao tiếp) mà anh Bùi Trần Hiếu có nhắc đến. Tôi nghĩ rằng học và “thực hành” nhân văn một cách tích cực là cách duy nhất để rèn luyện những năng lực này. Những vấn đề trong triết học không có câu trả lời duy nhất, cũng như không có một cách nhìn duy nhất về những sự kiện lịch sử. Để có ý kiến riêng của mình, học sinh phải tìm hiểu, nghiên cứu, suy xét và phản biện. Để bảo vệ ý kiến của mình, học sinh sẽ phải học được cách trình bày khúc chiết, lập luận kĩn kẽ. Ngoài ra học sinh còn học được cách tôn trọng, lắng nghe những ý kiến khác với ý kiến của mình mà nhiều khi phải chấp nhận lật lại toàn bộ những gì mà mình đã nghĩ.

      Số lượt thích

      • Cám ơn ý kiến trên của anh Châu! Đó là những vấn đề chúng ta cần phải giải quyết với phạm trù “Triết lý giáo dục”, “Phương pháp giáo dục”. Trước tiên cần khẳng định rõ ràng chúng ta có theo đuổi những mục tiêu giáo dục như thế không đã.

        Số lượt thích

        • Tôi cho rằng để làm được như anh Châu Ngô nói “critical thinking (tư duy phản biện), creativity and innovation (sáng tạo và đổi mới), cooperation and communication (hợp tác và giao tiếp)” thì việc đầu tiên phải thoát khỏi vòng luẩn quẩn trong định hướng phát triển giáo dục hiện nay. Đề án GD đặt ra là đổi mới nhưng lại phải “đảm bảo tuyệt đối mục tiêu “định hướng xã hội chủ nghĩa trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế”. “Định hướng XHCN” là gì còn chưa ai định nghĩa được, không thể cụ thể hoá được để đổi mới theo đó.

          Số lượt thích

    • Bạn Bùi Trần Hiếu thân mến,

      Tôi đang giảng dạy ở một trường ĐH công lớn bên Mỹ nên có thể trả lời phần nào câu hỏi của bạn ở khía cạnh GD đại học; tôi có thể hỏi thêm sinh viên của tôi về việc học của các em ấy ở bậc phổ thông và trả lời bạn sau.

      Về cơ bản, nếu tôi hiểu đúng câu hỏi của bạn thì bạn muốn hỏi: Các nước phát triển làm thế nào để dạy học sinh phát triển năng lực tư duy phản biện và sự sáng tạo trong giải quyết vấn đề? Và cụ thể hơn là SGK của họ làm thế nào để dạy học sinh được việc này.

      Trả lời được trọn vẹn câu này thì phải mất ít nhất một cuốn sách; tôi chỉ xin chia sẻ một chút trong phạm vi ngành mà tôi giảng dạy là ngành công tác xã hội. Hiện nay, trường CTXH của tôi cũng đang làm một việc hơi hơi giống với VN là thay đổi toàn bộ chương trình giảng dạy mà chúng tôi đã duy trì từ cuối thập kỷ 90. Thay tất. Bắt đầu từ việc viết lại tuyên ngôn về sứ mệnh đào tạo của trường: “Sứ mệnh của trường CTXH thuộc ĐH X là đào tạo ra các sinh viên có khả năng abc…” Từ sứ mệnh này, chúng tôi bỏ hẳn cấu trúc chương trình cũ; thay bằng cấu trúc mới. Có cấu trúc khung mới rồi; chúng tôi bắt đầu dựng các môn học bên trong cấu trúc. Làm thế nào để dựng các môn học. Cái này, lại phải vừa dựa vào sứ mệnh, vừa dựa vào quy định khung của Hội đồng giáo dục CTXH Hoa Kỳ. Hội đồng này là một tổ chức chuyên môn độc lập, phi lợi nhuận, không thuộc Nhà nước quản lý; họ có nhiệm vụ là cứ 8 năm một lần, họ tới các trường để đánh giá chất lượng chương trình đào tạo, và quyết định có cấp chứng chỉ chất lượng hay không (accreditation). Nói “họ” là ai? Bản thân họ vừa có nhân sự cố định, vừa chính là các giáo sư trong ngành; như vậy là kiểm soát chất lượng chuyên môn bằng người có chuyên môn và trên tinh thần công bằng, chuyên nghiệp. Các trường muốn có sinh viên vào học phải có phê duyệt chất lượng cho nên họ tự biết phải xây dựng chất lượng cho tốt.

      Trong khung chương trình của Hội đồng giáo dục CTXH Hoa Kỳ không hề có quy định bắt buộc là các trường phải dạy những môn nào, môn nào, dùng sách gì, sách gì. Họ chỉ có các quy định chung như muốn có bằng cử nhân, phải học bao nhiêu tiếng chuyên môn, bao nhiêu tiếng thực hành; chương trình học phải đảm bảo có những cấu phần lớn nào. Khi đưa ra quy định về các cấu phần; họ dựa trên 3 thứ mà họ muốn trang bị cho sinh viên: kỹ năng (skills), kiến thức (knowledge), và các giá trị (values). Ba thứ này lại được triển khai rõ ràng thêm; ví dụ như kỹ năng cần có các kỹ năng cơ bản nào (đánh giá, phân tích, tổng hợp, giao tiếp với thân chủ, huy động nguồn lực, vận động chính sách, giao tiếp cộng đồng, vv…); các kiến thức gồm có các lý thuyết về tâm lý, xã hội, hành vi, vv; hay các giá trị gồm có tôn trọng khác biệt, vận động cho đối tượng yếu thế, vv… Sau đó, với mỗi một thứ trong ba thứ này, để đảm bảo giáo viên dạy các thứ đó và sinh viên thực sự nắm được các thứ đó ở mức độ ra trường có thể thực sự đi làm được thì họ triển khai qua hai công cụ đo là sự thành thạo kiến thức (competencies) và các hành vi thực hành (practice behaviors). Điều đó nghĩa là: Nội dung sách giáo khoa mà giáo viên chọn dạy, bài tập mà giáo viên hình thành phải đưa đến kiến thức, giá trị, kỹ năng ĐO ĐƯỢC dưới dạng sự thành thạo kiến thức và sự thuần thục trong hành vi thực hành như một người lao động tương lai.

      Hiện nay, tôi và một số đồng nghiệp phải đảm đương việc thiết kế lại hai môn thuộc chương trình đại cương. Khi chúng tôi viết lại syllabus cho các môn này, chúng tôi toàn quyền chọn sách giáo khoa từ rất nhiều các cuốn SGK khác nhau của tác giả khác nhau, và toàn quyền thiết kế bài giảng, xây dựng bài tập, vv… Nhưng trên syllabus, chúng tôi phải liệt kê rõ các nội dung bài giảng và bài tập mà chúng tôi thiết kế có liên hệ với nhau thế nào, sẽ giúp sinh viên có được sự thành thạo chuyên môn nào, sự thuần thục hành vi thực hành nào, và sẽ đo điều đó ra sao. Chúng tôi cũng phải liệt kê rõ mỗi nội dung giảng dạy, mỗi bài tập hướng vào các kỹ năng gì, kiến thức gì, giá trị gì cho sinh viên.

      Khi toàn bộ các nhóm làm việc khác nhau ráp các môn học với nhau như trên một bức tranh lớn, thì tất cả các lớp học trong chương trình, cộng với nhau, sẽ phải phủ kín, phủ dày tất cả các yêu cầu về kỹ năng, kiến thức, giá trị mà chúng tôi muốn sinh viên có. Tức là nó phải làm được sứ mệnh của trường và đáp ứng chuẩn của Hội đồng giáo dục CTXH Hoa Kỳ.

      Trở lại câu hỏi làm sao để dạy học sinh tư duy phản biện và sự sáng tạo trong giải quyết vấn đề? Như bạn thấy, một phần rất lớn nằm ở chỗ trong thiết kế môn học và nội dung học, mọi thứ đều hướng trực tiếp vào đào tạo để làm việc, mọi sự đo lường việc học tập của sinh viên đều hướng tới kiến thức và các hành vi làm việc thực sự – cho nên lúc nào giáo viên và sinh viên cũng hỏi “Làm thế có thực sự hiệu quả không, có ra sản phẩm bán được không, có thực sự giúp được thân chủ không, có cải thiện được cộng đồng đó không, có tiết kiệm được chi phí không, người ta có bỏ tiền đầu tư vào ý tưởng này không?”. Thứ hai, với bất kỳ một nội dung kiến thức nào, sinh viên bao giờ cũng được giới thiệu tất cả các luồng tư tưởng khác nhau về cùng vấn đề đó, chứ không phải chỉ có một luồng tư tưởng chính thống. Thứ ba, trong lớp, giáo viên nói rất ít, sinh viên nói là chính. Mỗi ngày lên lớp, tôi và các đồng nghiệp “giảng” vô cùng ít; thường chỉ bắt đầu bằng một số câu hỏi, sau đó là thảo luận, tranh luận. Tôi lấy ví dụ như với môn mà đại cương mà tôi nói ở trên, sinh viên phải đọc “Tuyên ngôn cộng sản” của Mác (cái này là thật nhé, sinh viên bên này đọc Mác rất kỹ), một bài khác của Max Weber, rồi một số tác giả khác để trả lời câu hỏi “Vì sao xã hội của chúng ta lại có cấu trúc như hiện tại?”; sau đó trên lớp, có khi sinh viên tranh luận hàng giờ liền chỉ về một từ trong một bài đọc. Thực ra, giáo viên bên này coi SGK chỉ là một cái sườn để bám vào, nhiều môn học hoàn toàn không dùng SGK; sinh viên thường được khuyến khích đọc trực tiếp các bài viết gốc của các tác giả, và tranh luận trực tiếp về các khái niệm, ý tưởng gốc, chưa qua phiên dịch của người khác. Trong lớp, sinh viên nào cũng phải phát biểu; sự cọ sát này tự nó dạy cho sinh viên biết phản biện.

      Có phản biện thì đi đến sáng tạo không xa lắm; vì sáng tạo xuất phát từ câu hỏi “Có người đã làm thế, nhưng có nhất thiết phải làm thế không, còn có thể làm gì khác, làm tốt hơn?”

      Đấy là vài chia sẻ của tôi.

      Số lượt thích

      • Tôi cũng muốn nói thêm là đứng về mặt kỹ năng, để dạy sinh viên biết phản biện thì thực ra không khó. Sinh viên VN thực ra cũng được học khi họ học triết ở chương trình đại cương – về logic, về tam đoạn luận, về các khái niệm giả thiết, kết luận, kết luận thay thế, vv.. Có điều là sinh viên VN ít có thực hành thôi. Bên này thì sinh viên thực hành liên tục nên nó thành một thứ bản năng. Chứ để dạy các kỹ năng tư duy phản biện cơ bản theo kiểu cầm tay dạy học sinh tập viết thì không hề khó; nhưng mà dạy xong, học sinh không viết nhiều thì chữ vẫn xấu, có khi lại tái mù.

        Số lượt thích

        • Để tập trung cho chủ đề chương trình và SGK giáo dục phổ thông, mong bạn PV có thể trao đổi những chia sẻ về GD ĐH ở một diễn đàn khác có ngay trong Học Thế Nào.

          Số lượt thích

        • Xin trân trọng cảm ơn những chia sẻ rất kỹ lưỡng của anh/chị PV.

          Tôi rất thích và cũng đồng tình với nhận định của PV là việc hình thành kỹ năng ko gì tốt hơn là qua thực hành, và đó cũng là một trong những yếu điểm chết người mà GD VN đang mắc phải.

          Về hình thành và phát triển tư duy phản biện, tôi cũng nhận thấy một trong những PP rất hữu hiệu là giới thiệu cho SV các luồng tư tưởng lớn, đa chiều, GV đóng vai trò nêu câu hỏi, gợi mở và dẫn dắt thảo luận thay vì lấy giảng giải là chính. Có chăng họ cũng có thể góp phần chia sẻ góc nhìn của mình (nếu có). Đồng thời, việc học nếu thường xuyên được phản ánh gắn liền với mục đích và mục tiêu học tập, gắn với các câu hỏi: học cái đó để làm gì, là được gì, kết quả ra sao… sẽ rất bổ ích và hiệu quả, nhất là với các lĩnh vực học cần ứng dụng công việc sau đó như ngành CTXH.

          Cũng từng có thời gian tham gia thiết kế một số môn học cho SV đại học theo yêu cầu chuẩn chương trình quốc tế cũng như học tập ở nước ngoài nên tôi rất hiểu quá trình thiết kế đề cương môn học, giáo án giảng dạy, đòi hỏi sự logic và nhất quán mục tiêu như chia sẻ của anh.

          Tôi rất mong được nghe những chia sẻ khác liên quan hơn tới GD Phổ thông ở các nước phát triển. Họ đã giúp HS phát triển các năng lực tư duy và học tập như thế nào? Đó có phải là một trong những điểm khác biệt lớn và hệ trọng giữa họ với GD Việt Nam không?

          Vì tôi vẫn tin rằng GD VN đã và đang thất bại toàn diện đối với sứ mệnh này, Và nhiều thế hệ người học Việt Nam (số đông) vô cùng thiếu hụt các năng lực phản biện và sáng tạo (trong đó có bản thân tôi). Và việc thất bại này góp phần rất lớn khiến làm suy yếu lực lượng lao động nước nhà. Để rồi hệ thống giáo dục bậc hậu-phổ thông có muốn cũng không kịp và không thể làm gì để cứu được nữa,

          Số lượt thích

      • Tôi không cho rằng SGK dạy được cho HS như mấy dòng đầu comment của bác. SGK là vật cứng, chết. Người mới là sống động. Bác lẫn giữa sách và dạy thì phải.

        Số lượt thích

  22. Chào GS Châu! Rất vui được trao đổi với GS về các vấn đề cùng quan tâm.

    Về câu hỏi thứ nhất của GS, tôi tin là Việt Nam rất cần đổi mới sách giáo khoa.

    Tuy nhiên, tôi cũng cho rằng Bộ GD-ĐT trình đề án đổi mới sách giáo khoa lúc này là làm ngược quy trình “đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục”. Tôi nghĩ quy trình rà soát, đổi mới giáo dục cần phải có trình tự như sau:

    1/ Mục đích giáo dục

    2/ Triết lý giáo dục

    3/ Phương pháp giáo dục

    4/ Mô hình giáo dục

    5/ Chương trình giáo dục

    6/ Sách giáo khoa

    7/ Giáo viên

    8/ Cơ sở vật chất giáo dục

    Như vậy, trước khi bàn chuyện đổi mới sách giáo khoa, cần làm rõ và thống nhất 5 vấn đề quan trọng là mục đích giáo dục, triết lý giáo dục, phương pháp giáo dục và mô hình giáo dục. Hiện nay chúng đang là gì và tới đây chúng nên thế nào, tại sao?

    Ví dụ, về triết lý giáo dục, cần trả lời rõ các câu hỏi:

    – Dạy ai?

    – Dạy cái gì?

    – Dạy như thế nào?

    Tôi tìm được các nền tảng triết lý giáo dục Mỹ, bao gồm:

    – Essentialism
    – Perennialism
    – Progressivism
    – Existentialism

    Tôi cũng tìm được các diễn giải, cụ thể hoá các nền tảng triết lý này, ví dụ:

    “Essentialism focuses on teaching the essential elements of academic and moral knowledge. Essentialists urge that schools get back to the basics; they believe in a strong core curriculum and high academic standards.

    Essentialism and perennialism give teachers the power to choose the curriculum, organize the school day, and construct classroom activities. The curriculum reinforces a predominantly Western heritage while viewing the students as vessels to be filled and disciplined in the proven strategies of the past. Essentialists focus on cultural literacy, while perennialists work from the Great Books.”

    Vậy triết lý giáo dục Việt Nam cụ thể đang là gì và nên thay đổi như thế nào?

    Như GS đã biết, cá nhân tôi cũng đã nêu một số ý kiến, đề xuất về việc xác định mục đích học tập và mô hình giáo dục.

    Chúng ta sẽ trao đổi sâu thêm về các nội dung này nếu có điều kiện.

    Số lượt thích

    • Anh Châu ơi, tôi đã cố gắng, nhưng không tìm được các triết lý giáo dục Pháp để so sánh. Nếu anh có tài liệu thì chia sẻ nhé!

      Số lượt thích

      • Anh Nam tìm đọc ông Meirieu
        http://www.meirieu.com/
        Ông này là một trong những gourou của khoa học giáo dục ở Pháp. Cũng là một trong những người cổ xuý rất mạnh cho việc lấy “năng lực” thay cho “kiến thức”. Gần đây thì ông ấy bị phê bình rất nhiều, vì người ta nhận ra rằng giáo dục ở Pháp càng cải càng nát. Học sinh bây giờ không có cả “kiến thức” lẫn “năng lực”.

        Số lượt thích

    • Rất đồng tình với ý kiến của anh Lương Hoài Nam. Có lẽ đổi mới giáo dục nên bắt đầu bằng luật giáo dục. Một cái cây đã bị mục ruột thì cố gắng tỉa lá tỉa cành chỉ tốn kém thêm mà thôi.

      Số lượt thích

    • Rất đồng tình với anh Lương Hoài Nam, có lẽ điều mà chúng ta cần không phải chỉ có nguồn lực để đầu tư cho giáo dục (tiền bạc, con người…) mà chúng ta cần có tổng công trình sư tài ba để xây dựng lại toàn bộ hệ thống, từ gốc đến ngọn.

      Số lượt thích

    • Ai dạy ai? Còn giữ cái tư duy đi dạy thì tôi cho là đã quá sai lầm. Thầy dạy trò? Sao không là trò dạy thầy?

      Số lượt thích

  23. Hoàn toàn đồng ý với chia sẻ của Giáo sư Ngô Bảo Châu đưa ra. một trong những vấn đề quan trong nhất là việc khơi dậy được tinh thần học tập ở người học và hướng dẫn đúng phương pháp cho người học rồi sau đó mới là cung cấp kiến thức cho người học. Sách giáo khoa là một trong những yếu tố quan trọng để cung cấp cho học sinh cả 3 vấn đề này:
    – Khơi dậy tinh thần học tập: Một cuốn sách giáo khoa nêu được những vấn đề được quan tâm, mới, hấp dân cả về nội dung và hình thức
    – Phương pháp học tập: Với mỗi một lĩnh vực, một môn học đều có nhiều cách tiếp cận khác nhau, do vậy việc hướng cho học sinh học theo phương pháp nào, cách tiếp cận như thế nào, đề tài mở hay đóng…
    – Kiến thức cung cấp: việc cung cấp kiến thức nào, cung cấp đến đâu. theo tôi, sách giáo khoa là để cung cấp kiến thức cơ bản, những nguyên tắc chủ yếu do vậy việc cung cấp theo dạng, theo chủ đề, cách nhìn tổng thể. Nói một cách đơn giản là hãy cung cấp cho học sinh cái gậy để chống khi đi trên đường chứ không cần nói cho họ biết trên đường đi có gì?

    Một vấn đề nữa mà tôi hoàn toàn đồng ý với GS.Ngô Bảo Châu đó là việc biên soan sách giáo khoa phải có chương trình trước, giống như làm bài văn, làm luân văn, luận án phải có đề cương, xem xét đề cương trước, sau đó mới tiến hành viết bài, trong khi viết bài vẫn sửa được đề cương mà, và nhất thiết rằng phải có việc chỉ đạo và phản biện (giống như việc làm luận văn hoặc luận án phải có giáo viên hướng dẫn và phải có người phản biện)

    Một chia sẻ tiếp theo đó là hồi xưa chúng tôi học đã có việc học nhóm, tại sao bây giờ không ai đề cập đến vấn đề này. trong sach giáo khoa việc hướng dẫn thực hiện nội dung này là vô cùng cần thiết để phù hợp với xã hội hiện đại ngày nay đó là làm việc nhóm và sinh hoạt cộng đồng.

    Một vài chia sẻ vì không có thời gian nhiều, mong mọi người cho ý kiến. Cám ơn các bạn đã đọc bài.

    Số lượt thích

  24. 1. Thực ra đề án đổi mới SGK của Bộ GD VN không nên là việc biên soạn lại hoàn toàn các SGK từng môn học ở các cấp và các trường (bao gồm cả GD thường xuyên, bổ túc, học nghề) theo định kỳ vài năm một lần mà chỉ cần chỉnh lý, sửa đổi, bổ sung nội dung SGK một cách linh hoạt dựa vào yêu cầu mang tính cập nhật hay hoàn thiện của từng môn học một.

    Một số môn học đòi hỏi sự cập nhật thông tin liên tục ví dụ như lịch sử, địa lý, ngoại ngữ và đặc biệt là tin học thì không thể 10 năm mới được đổi mới SGK được. Ngược lại, một số SGK các môn như Văn, Toán, Lý, Hoá, Vẽ kỹ thuật …thì không cần thiết phải 2 năm đổi mới một lần. Ngoài ra, SGK cho học sinh lớp 1, 2, 3 không nên thay đổi liên tục như làm thí nghiệm với các em, vì ở độ tuổi non nớt, mới tiếp xúc và làm quen với kiến thức cơ bản các em Cần sự ổn định. Nếu Cần thỉ sửa đổi, chứ không nên cải cách đột ngột.

    2. Như đã được trình bày ở trên, phải tuỳ từng môn học, từng loại trường, cấp học mà có sự sửa đổi SGK.

    3. Trước khi nói đến việc ai giám sát chất lượng SGK và ai kiến nghị thay đổi SGK thì nên xét kỹ việc ai biên soạn và phát hành SGK ở VN hiện nay!

    Ở VN, nhà xuất bản GD và viện KHGD đều trực thuộc bộ GD, nên biên soạn và xuất bản cũng như phát hành SGK cho cả nước. Qua thực tế cho thấy thì việc để 2 tổ chức này tự giám sát là không hiệu quả.
    Việc thành lập một Ủy ban GD QG độc lập với bộ GD để giám sát chất lượng và kiến nghị thay đổi SGK thì trên lý thuyết là hợp lý, nhưng trên thực tế là rất khó khăn đối với hiện trạng như ở VN.Không ai có thể đảm bảo rằng bộ GD Việt Nam sẽ cộng tác tích cực với Ủy ban GD độc lập.kia trên tinh thần cởi mở. Nhất là khi Ủy ban đó lại luôn muốn giám sát chặt chẽ và kiểm tra chất lượng ngặt nghèo Nội dung SGK của bộ GD VN.

    Trong khi đó ở một nền giáo dục tiên tiến trên TG nói chung, thì họ không có sự độc quyền việc xuất bản SGK. Bộ GD của họ chỉ đưa ra một chương trình khung, với vài tinh thần gạch đầu dòng, chứ không liệt kê phải dạy và học sách nào, của tác giả nào, thầy dạy phải giống nhau, học sinh phải học giống nhau. Các nhà xuất bản được quyền tự do biên soạn và xuất bản sách học. Để sách được đưa vào các trường làm SGK thì thường phải được bộ GD hay sở GD giám định và cấp giấy phép. Một số nơi, các trường có quyền được tự do chọn lựa sách. Giáo viên của họ được tự do bổ sung kiến thức bài giảng, miễn là phù hợp với chương trình khung. Tuy nhiên, cũng phải nói thêm là các NXB của họ được tham gia biên soạn và xuất bản SGK được hơn cả trăm năm rồi, nên họ biết phải làm gì để thầy và trò chọn sách của họ! Để ra được một cuốn SGK thì cả một tập thể gồm giáo viên PT, giảng viên ĐH, nhà sư phạm, nhà nghiên cứu, biên tập viên, người trình bày …dồn hết tâm huyết và khả năng vào việc biên soạn, đóng góp, trao đổi ý kiến, phê bình, bổ sung, chỉnh sửa và hoàn thiện nội dung cũng như hình thức. Sau khi xuất bản thì họ cũng liên tục chỉnh lý, bổ sung hay sửa đổi SGK để phù hợp với yêu cầu cập nhật, đáp ứng đòi hỏi mới của bộ GD, của trường, giáo viên hay học sinh.

    Vậy tóm lại, một việc mà những nước tiên tiến đã làm được cách đây cả thế kỷ thì VN ta nên bắt đầu.

    4. 5. 6. ….( xin phép được bình luận sau)

    Số lượt thích

    • http://www.kmk.org/dokumentation/lehrplaene/uebersicht-lehrplaene.html
      http://www.schulbuchportal.de
      trên đây là những đường links dẫn đến những thông tin mình viết ra ở trên như chương trình khung Lehrpan của một số bang bên Đức.
      Trong schulbuchportal có cả video giới thiệu về cách thức biên soạn SGK của các nhà xuất bản lớn ở Đức.

      Mình được biết nhiều cán bộ và lãnh đạo trong ngành GD ở VN đã từng được đào tạo tại Đức, thì những thông tin về biên soạn SGK và chương trình khung bổ ích như thế này lẽ nào lại không được tham khảo?

      Số lượt thích

  25. Tôi rất đồng tình với ý kiến của NVP là chúng ta nên đặt vấn đề “Làm thế nào?” thay vì “Tại sao phải làm?”. Như tôi đã trao đổi ở trên, đổi mới sách giáo khoa (và bỏ độc quyền sách giáo khoa) là việc phải làm, nhưng cách Bộ GD-ĐT đang làm là ngược.

    Trong xây dựng đô thị người ta đi từng bước thế này: Quy hoạch 1/2000 —> Quy hoạch 1/500 —> Thiết kế từng cái nhà —> Mua nguyên vật liệu —-> Thi công.

    Bộ GD-ĐT đang đi mua gạch lát sàn khi còn chưa có thiết kế nhà.

    HTN: Anh nên trả lời bằng cách ấn vào reply dưới comment của anh NVP, hoặc của anh Châu, để thảo luận đi theo đúng mạch.

    Số lượt thích

  26. Tôi lưu ý câu này của bạn Maipoirrier ở trên:

    “6. Cần thay đổi gì nhất trong chương trình và sách giáo khoa hiện hành?

    Câu hỏi có vẻ giản dị nhưng khó trả lời vô cùng vì cần nghiên cứu nhiều yếu tố trước khi trả lời. Lại không có một câu trả lời duy nhất cho tất cả các chương trình hay sách giáo khoa, cho tất cả các độ tuổi và tất cả các vùng miền.”

    Nhưng nếu không trả lời được câu hỏi này một cách thuyết phục thì đổi mới sách giáo khoa như thế nào được? “Đổi mới” nghĩa là nhận ra các bất cập cụ thể, đặt ra các mục tiêu mới và vạch ra con đường, nguồn lực, phương tiện đi từ hiện tại đến mục tiêu mới.

    Nghĩa là, chúng ta hoàn toàn chưa sẵn sàng cho việc đổi mới sách giáo khoa.

    Số lượt thích

    • Anh Nam ạ, đây là chỗ mà Bộ GD lúng túng nhất. Lập luận nghiêm túc nhất được đưa ra là phải thay đổi hoàn toàn SGK vì thay đổi quan niệm về giáo dục, thay vì học để có kiến thức, bây giờ học để có năng lực. Lập luận này nghe thì khá hợp với hơi thở của thời đại, nhưng thực ra cũng khá tù mù. Thay đổi như thế nào cũng có thể coi là “năng lực” chứ không phải “kiến thức”.

      Số lượt thích

      • thichhoctoan, tôi đang đọc một tài liệu tổng hợp về các lần đổi mới giáo dục của Anh. Với mỗi một thay đổi, họ đều có thông tin, số liệu phân tích để khẳng định tại sao cần thay đổi và các mục tiêu thay đổi đặt ra là gì, làm như thế nào? Còn với đề án của ta thì tôi không nhìn thấy cả cơ sở, lý do, mục tiêu, cách thức thay đổi.

        Tôi không đồng tình với lập luận là 10 năm hay 20 năm phải đổi sách giáo khoa một lần. Bây giờ tình hình tệ quá rồi thì cần đổi mới toàn diện một lần, nhưng sau đó vẫn phải cập nhật thường xuyên và không còn tình trạng độc quyền sách giáo khoa nữa. Phải có nhiều bộ sách giáo khoa như ý GS Châu nói ở trên.

        HTN: Thích Học Toán (thichhoctoan) cũng là GS Ngô Bảo Châu.

        Số lượt thích

  27. Trên lý thuyết thì phải có chương trình rồi mới viết SGK, bởi không ai xây nhà xong mới mời kiến trúc sư vẽ thiết kế. Trên thực tế, xây dựng chương trình trước khi viết sách là một việc khó, không có ai được đào tạo và có kinh nghiệm để làm tổng công trình sư cho việc xây dựng chương trình học và viết SGK. Trong thực tế, chúng ta thường viết SGK xong rồi mới soạn chương trình.

    Những người viết sách đều biết, tác giả ít khi viết mục lục trước. Những người từng viết sách đều biết, phải bắt đầu soạn một mục lục nháp, viết một vài chương sẽ thấy mục lục không ổn, sửa lại mục lục rồi lại viết tiếp…^!^

    HTN: Không nên spam forum bằng cách copy ý ở bài trên xuống comment ở dưới mà không đưa vào thêm được một chút ý kiến riêng của mình.

    Số lượt thích

  28. Để tiện theo dõi, các anh chị có ý kiến về việc dịch SGK nước ngoài thì reply vào đây. Tôi thấy việc này bất khả thi. Ngoài việc đồng ý chọn ra một bộ mà tôi cho rằng bất khả thi, nếu dịch sách, sẽ phải trả royalty cho từng quyển sách bán ra một, sẽ là một gánh nặng không nhỏ cho người dân.

    Số lượt thích

    • Mặc dù kiến nghị chọn mô hình giáo dục Anh, nhưng cá nhân tôi không ủng hộ việc dịch y nguyên sách giáo khoa nước ngoài để dùng cho Việt Nam. Cần phải tính toán đến các yếu tố văn hoá Việt Nam, tâm sinh lý, thể lực của học sinh Việt Nam.

      Các môn khoa học tự nhiên thì còn có thể làm như thế, nhưng cũng không cần làm. Chúng ta có đủ trình độ để viết sách giáo khoa mà không cần phải trả nhiều tiền bản quyền.

      Số lượt thích

    • Vấn đề hình ảnh – Điểm yếu kém và lạc hậu rất khó khắc phục trong SGK của ta.
      Hình, ảnh và đồ hoạ đều cần nâng cấp. Đây là nguyên nhân phải thay sách giáo khoa (nếu có tiền). Mỹ thuật yếu kém của SGK sẽ làm giảm tính sáng tạo của học sinh, gây hậu quả về sau, ví dụ như vẽ nhà xấu, quy hoạch kém…

      Cũng vì lý do này mà ta nên mua SGK về khoa học tự nhiên của nước ngoài như mua của Singapore. Họ làm chuẩn và gần với cả ta và tây. Mua của họ có thể đàm phán mua đứt rất rẻ (ta tự làm ko thể rẻ như vậy). Lý do là các công ty sách của nước nhỏ như Singapre họ bán được là mỹ mãn rồi. Bình thường phải trả 5-7% bản quyền nhưng nếu là SGK thì có thể mua đứt một lần qua đường nhà nước và có cách tính riêng cho số lượng lớn của SGK. Mình nghĩ nếu Việt Nam thực sự muốn mua bộ SGK cho khoa học tự nhiên thì Thủ tướng Lý Hiển Long có khi còn đồng ý tặng luôn 🙂

      Vấn đề lớn hiện nay là hoạ sỹ có khả năng và trình độ thể hiện các sách về khoa học tự nhiên là thiếu nghiêm trọng. Với cả núi việc như vậy sẽ ko đủ thời gian cho ra một bộ SGK về khoa học tự nhiên Đúng Đủ Đẹp theo tiêu chuẩn cao mà lại nhanh và rẻ.
      Hơn nữa một vấn đề lớn là trong các tranh luận về SGK, các GS thường hay bỏ qua, xem nhẹ vấn đề mỹ thuật của SGK đặc biệt là kênh hình ảnh.
      Chúng ta có thể viết đủ “chương” nhưng không đủ “trình” và “độ” để vẽ và đồ hoạ.
      Các hoạ sỹ của chúng ta rất ít người có thời gian và năng lực để minh hoạ cho sách Khoa Học Tự Nhiên. Với thời đại hình ảnh như vậy thì Kênh Hinh Ảnh mà kém thì SGK lại lạc hậu. Đợi họ vẽ xong thì mất thời gian. Để họ vẽ nhanh thì mất sự cẩn thận và tiên tiến.

      Số lượt thích

      • Đúng là SGK có minh hoạ đẹp sẽ quấn hút học sinh hơn nhiều. Nhưng chắc chắn giá thành sẽ đặt hơn. Theo anh Sơn thì sẽ đắt hơn bao nhiêu lần và người dân có chịu được chi phí đó không?

        Số lượt thích

        • 1. Mình tin là giá thành ko phải là vấn đề.
          Nhà nước cần đầu tư SGK điện tử cho rẻ và linh hoạt ở nới có điều kiện và cho thuê SGK in để giảm chi phí cho người dân.
          Hiện nay, học sinh phải mua hằng năm xong rồi về cơ bản cuối năm lại không dùng nữa là rất phí. Sách phải được thiết kế bền để cho thuê, hằng năm chỉ in thêm để bù cái cũ rách, mất, thiếu.
          Trẻ em nghèo vùng xa được miễn tiền thuê SGK.
          Giảm được chi phí cho mỗi gia đình chi cho SGK thì sẽ có thêm ngân sách của mỗi gia đình cho văn hóa đọc các sách khác 🙂

          2. Mua thì giá bản quyền sẽ rẻ và có chất lượng cao nếu lựa chọn tốt.
          Ở đây mình chỉ bàn về việc mua bản quyền của SGK khoa học tự nhiên thôi vì đàng nào thì nếu ta làm thì cũng cơ bản là giống của tây về kiến thức và kinh nghiệm, vẽ thì họ vẽ rồi và đẹp hơn,
          Chắc chắn là chúng ta tự vẽ sẽ rất chậm, đắt và gần như là bất khả thi nếu đặt tiêu chuẩn cao như các nước tiên tiến. Cho nên mua là rẻ nhất.
          Vấn đề thực tế là có trả rất nhiều tiền thì họa sỹ của ta cũng rất ít người vẽ được để minh họa cho sách khoa học.
          Lý do là để vẽ được thì người viết sách nháp ý tưởng cho hình ảnh (kiểu như tác giả kịch bản) nhưng cần có người phân khung (kiểu như đạo diễn phim) rồi mới đến ông họa sỹ thể hiện. Sau đó còn bên đồ họa,,,
          Ở đây chúng ta thiếu nặng nhân sự làm phân khung (đạo diễn) cho sách khoa học, họa sỹ sẽ vẽ được nhanh và đẹp nếu được đạo diễn hướng dẫn chu đáo.
          Chúng ta cũng rất thiếu các họa sỹ có kiến thức căn bản và thích vẽ đề tài khoa học tự nhiên.
          Về ảnh thì chúng ta cũng không có nhiều dữ liệu ảnh gốc có bản quyền về khoa học do thí nghiệm toàn do tây làm, tây chụp ảnh ở phòng thí nghiệm của họ 🙂

          Số lượt thích

        • SGK đắt quá sẽ không thực hiện được mục tiêu phổ cập giáo dục. Giá sách chỉ không thành vấn đề đối với những người dân có nhu nhập khá, tập trung ở các khu đô thị. Vùng sâu, vùng xa, không phải ai cũng có tiền mua sách cho con. Hiện giờ, giá SGK vẫn là do chính phủ duyệt giá.

          Số lượt thích

      • Thực ra làm sách khoa học tự nhiên không cần phải vẽ nhiều, Tác giả và Biên tập viên có thể cung cấp hình ảnh vì hình ảnh khoa học phải thực sự chính xác, người không có chuyên môn không thể làm được điều này. Tuy nhiên, những tác giả và BTV đó phải nhận thức là đưa nhiều hình ảnh minh hoạ trong sách khoa học là điều quan trọng và có ý tưởng về việc minh hoạ hình ảnh. Hoạ sĩ thiết kế sách của VN có khả năng làm đẹp không kém gì Singapore, thậm chí có thể làm đẹp hơn.
        Điều quan trọng nữa là tác giả chọn cách tiếp cận nào, viết như thế nào để vừa cung cấp kiến thức khoa học một cách chính xác mà lại gây hứng thú cho HS, đưa những kiến thức khoa học vốn khô khan đó trở nên gần gũi, có ích với chúng,…
        Mình rất thích cách tiếp cận và trình bày SGK môn Khoa học của Singapore, họ luôn dùng Concept Cartoon, Concept Mapping,… trong các bài học. HS sẽ rất hứng thú với bài học và nhớ lâu… Túm lại, mình nghĩ VN có đủ người để làm tốt mà sách không quá đắt, có điều những người đó có được dùng hay ko thôi!

        Số lượt thích

        • Muốn làm được sách vừa chất lượng, vừa giá thành không quá đắt, phải bỏ được độc quyền làm SGK, độc quyền 1 bộ SGK.

          Số lượt thích

    • dịch sách chỉ nên dùng để tham khảo thôi. sách của mỗi nước làm ra theo sứ mệnh, mục tiêu phục vụ giáo dục của họ. mà vn thì có mục tiêu giáo dục phải khác chứ làm sao giống y nguyên nước nào được? khi dùng tham khảo sử dụng những gì mà vn cần cho mục tiêu phát triển GD của vN

      Số lượt thích

  29. Copy sang đây ý kiến của d/c Sơn Loắng người quyết không chịu rời địa bàn fb:

    Ha Huy Khoai em chỉ nhân tiện “thảo luận” với bạn Chau Ngo về vấn đề hình ảnh – Điểm yếu kém và lạc hậu rất khó khắc phục trong SGK của ta.
    Hình, ảnh và đồ hoạ đều cần nâng cấp. Đây là nguyên nhân phải thay sách giáo khoa ( nếu có tiền). Mỹ thuật yếu kém của SGK sẽ làm giảm tính sáng tạo… ví dụ như vẽ nhà xấu, quy hoạch kém…
    Cũng vì lý do này mà ta nên mua SGK về khoa học tự nhiên của nước ngoài như mua của Singapore. Họ làm chuẩn và gần với cả ta và tây. Mua của họ có thể đàm phán mua đứt rất rẻ (ta tự làm ko thể rẻ như vậy).
    Vấn đề là hiện nay hoạ sỹ có khả năng và trình độ thể hiện các sách về khoa học tự nhiên là thiếu nghiêm trọng. Với cả núi việc như vậy sẽ ko đủ thời gian cho ra một bộ SGK về khoa học tự nhiên Đúng Đủ Đẹp theo tiêu chuẩn cao mà lại nhanh và rẻ.
    Hơn nữa một vấn đề lớn là trong các tranh luận về SGK, các GS thường bỏ qua cái vấn đề này.
    Chúng ta có thể viết đủ “chương” nhưng không đủ “trình” và “độ” để vẽ và đồ hoạ.
    Các hoạ sỹ của chúng ta rất ít người có thời gian và năng lực để minh hoạ cho sách khoa học tự nhiên. Với thời đại hình ảnh như vậy thì Kênh Hinh Ảnh mà kém thì SGK lại lạc hậu. Đợi họ vẽ xong thì mất thời gian. Để họ vẽ nhanh thì mất sự cẩn thận và tiên tiến.
    P/S: viết vài dòng ở đây vì cũng ko còn trẻ nữa (cho việc bàn về SGK) nên ko dám tranh luận ở bên Học Thế Nào . Để thành công SGK phải do các bạn U45 chủ trì. Các bác lớn hơn U45 chỉ nên phản biện
    Hơn nữa lại có việc gia đình vào đúng khung giờ đó nên ko tham gia “chém gió” được

    Số lượt thích

  30. Đ/c Sơn Loắng còn có một ý kiến rất hay về việc SGKVN thiếu index

    http://longminh.vn/T%E1%BA%A6M%20QUAN%20TR%E1%BB%8CNG%20C%E1%BB%A6A%20PH%E1%BA%A6N%20TRA%20C%E1%BB%A8U%20THEO%20V%E1%BA%A6N%20INDEX%20TRONG%20S%C3%81CH%20KHOA%20H%E1%BB%8CC%20N%C3%93I%20CHUNG%20V%C3%80%20S%C3%81CH%20KHOA%20H%E1%BB%8CC%20D%C3%80NH%20CHO%20THI%E1%BA%BEU%20NHI%20N%C3%93I%20RI%C3%8ANG

    Hè vừa rồi, ngồi nghiên cứu SGK toán bằng phương tiện hiện đại do c/t Hoàng Tô cung cấp, tôi phát hiện ra thêm một điều là mục lục cũng rất buồn cười. Nhìn vào mục lục có thể thấy hình như SGK soạn ra không theo một chương trình được định trước.

    Số lượt thích

    • Làm ngược thì kết quả nó như thế, anh Châu ạ. Nếu không thay đổi cách làm, lần này e rằng tình hình sẽ vẫn như thế. Bao giờ cũng phải xây nền trước, xây nhà sau và khi xây nhà thì phải căn cứ vào nền. (Tôi làm BĐS nên hay dùng kiểu nó BĐS).

      Số lượt thích

      • SGK mới in năm học 2013-2014 cũng đã có một số quyển có Index, đây là điều đáng mừng 🙂
        Nếu có Index chúng ta có thể kiểm tra được xem việc dạy một tiết học có bị quá tải hay không khi đo tổng số từ khóa và số từ khóa mới được dùng trong tiết học.
        Hiện nay nhiều nước tiên tiến họ cho học sinh từ tiểu học làm các dự án để dạy các kỹ năng làm việc độc lập và làm việc nhóm. Khi làm các Dự Án này, học sinh phải đọc tra cứu nhiều, nên nếu không có index thì ko dạy được theo cách này.
        Đối với học sinh THPT làm đề tài nghiên cứu khoa học như Hội thi Intel ISEF tổ chức hằng năm ở Mỹ, thí sinh khi nộp bài phải nộp bản Tóm Tắt không quá 240 chữ và bắt buộc phải tự liệt kê Index.

        HTN: Anh Sơn viết một bài về chuyện này cho Học Thế Nào nhé.

        Số lượt thích

        • Học Thế Nào nên mở một cái bàn tròn khác cho vấn đề INDEX bởi vì cái này tuy là mục rất nhỏ ở cuối sách nhưng sách khoa học mà không có nó thì coi như phế phẩm vì mất tính khoa học.
          Hiện nay cái vấn đề lớn của GD đại học VN là sách và giáo trình phần lớn thiếu INDEX, một số giảng viên và nhiều sinh viên không hề biết đến nó. Chính vì thế cái vấn đề INDEX này cần cho GD đại học hơn là phổ thông. Giáo trình mà không có INDEX là bị mất đi tính khoa học.
          Có INDEX trong giáo trình sẽ là một bước tiến lớn để xóa lạc hậu trong cách học và nghiên cứu.
          Vấn đề nghiêm trọng tới mức chúng ta không có thuật ngữ chuẩn để dịch chữ INDEX từ tiếng Anh sang tiếng Việt.

          Số lượt thích

    • Anh Châu à,
      khi em đi Singapore em đã mua đầy 2 vali sách của các lớp tiểu học về để tham khảo cho con. ý kiến mua sách của Singapore rất hay nhưng hiện nay yêu cầu của Singapore đối với học sinh của họ cao hơn so với trình độ hiện tại của học sinh vn. việc đổi mới gd đang phải làm trên một nền GD hiện có mà không phải xóa được tất cả để reset lại từ đầu. em nghĩ vậy không biết có đúng không?

      Số lượt thích

    • Em là một giáo viên dạy Toán cấp 3. Mục tiêu lớn nhất của cấp 3 là các em phải đỗ đại học (mục tiêu này ưu tiên số 1 nên lấn át các mục tiêu khác). Vì vậy mà người ta sẽ không quan tâm nhiều đến sách giáo khoa viết có hay không mà người ta chỉ quan tâm nội dung trong đề thi đại học. Và GV sẽ dạy đi dạy lại cho các em nội dung này (luyện thi). Do đó, trước khi viết SGK thì người ta phải đưa ra những nội dung và kĩ năng cần có của một học sinh cấp 3 (cho từng môn), đưa ra cả nội dung và phương pháp kiểm tra đánh giá. Từ đó rồi mới soạn thảo một SGK theo mục tiêu trên, thì SGK mới có giá trị sử dụng, nếu không nó chỉ là sách mà học sinh chỉ xem khi cần nhớ công thức.

      Số lượt thích

  31. Bác Châu ơi cho con hỏi tại sao sách lịch sử nước ta so với sách các nước khác sao mà khác nhau quá. Ở nước ngoài trông vào đọc rất dễ hiểu và thích thú nhưng khi đọc tới sách lịch sử cấp 3 thôi mà thấy muốn ngán rồi. Có lẽ chăng ta theo cách giáo dục của Liên Xô ngày xưa chăng? Mà thời Liên Xô cũng ra rồi mà tại sao việc thay đổi sách có vẻ như kiến thức hàn lâm ngày càng nặng và ít thực tiễn với các em nhỏ hơn thì phải. Mong bác Châu trả lời giúp con.

    Số lượt thích

    • Mấy năm trước khi dư luận xôn xao về điểm không môn lịch sử của nhiều thí sinh, tôi có tò mò mở sách giáo khoa lịch sử. Tôi đồng ý với bạn là sách chán thật. Rất nhiều sự kiện, rất nhiều ngày tháng, nhưng không hề có câu chuyện, không hề có phân tích, có ý kiến. Đành rằng SGK phải hạn chế yếu tố chủ quan, nhưng lịch sử là một khoa học nhân văn, loại hết yếu tố chủ quan thì nó chẳng còn gì.

      Tôi nghĩ ngoài sức ép chính trị phải trình bày lịch sử theo một dòng chảy nào đó, người viết SGK có lẽ sợ sai, nên hầu như không đưa ra bất kỳ một nhận định nào làm cho lịch sử trở nên thú vị, để cho lịch sử làm sáng tỏ bối cảnh hiện tại.

      Số lượt thích

    • Có thể tác dụng phụ của sách sử nước ta khiến người học không có hứng thú (sợ hãi) tìm hiểu lịch sự.

      Số lượt thích

  32. Cảm ơn anh Châu đã lập lên bàn tròn thảo luận về việc ” đổi mới” SGK.
    Tôi có một vài ý tham gia cùng anh/chị em:
    – Việc nêu lý do đổi mới rất mơ hồ, không có cơ sở để thuyết phục: Kì hội thảo đã bắt đầu từ 2011 kết hợp với việc triển khai mở rộng chương trình PISA tới các trường học trên cả nước. Khi đó mọi người thấy cách viết sách và câu hỏi của PISA “hay quá”, thế là lại cùng nhau hò reo chương trình SGK của Việt nam đang quá nặng lý thuyết và thiếu thực tế. Chốt lại: chúng ta cần đổi mới SGK !?!
    – Các cá nhân tham gia hội thảo không hiểu soạn thảo sách và câu hỏi theo mẫu của PISA như thế nào. Khi đó Bộ GD-DT đưa 1-2 đồng chí/môn đi tập huấn ở Úc trong 1 tháng. Việc triển khai vô cùng khó khăn vì năng lực những người tham gia viết câu hỏi đánh giá “năng lực” không hề đơn giản. Mà việc làm chắp vá thế này, không hề có một sự thống nhất chương trình.
    – Khi thực hiện: ” tích cực” tham khảo sách nước ngoài. Và chuyện copy không hết và chọn lọc theo kiểu cái này mình có thì dùng, còn lại bỏ.
    – Thời gian thực hiện rất vội vàng. VD: trong 1 tháng mỗi người phải viết được 20 câu hỏi đánh giá “năng lực”.
    – Ngoại ngữ: quá trình họp và hội thảo đều có mối liên hệ mật thiết với đề án 2020. Ngoại ngữ đưa vào phương pháp chung chung, không có người kiểm định chất lượng. Ở trên quyết gì, ở dưới nghe thế thôi.
    Qua kì này, tôi có cảm giác được ” khủng hoảng” giáo dục đã đến đỉnh điểm. Từ chương trình, SGK và chất lượng giáo viên đang tệ quá mức.
    Là một người thích làm giáo dục, tôi thấy việc ” đổi mới” là cần thiết, nhưng phải dựa trên nền tảng mình đã làm được từ trước. Việc thay đổi SGK nhiều lần đã rất lãng phí và không cải thiện được chất lượng.
    Nếu qua đề án này, tất cả những người có năng lực và tâm huyết như anh Châu cùng tham gia và thực hiện sẽ khả quan hơn.

    Số lượt thích

  33. Nguyên Vụ phó Vụ giáo dục Đại học Lê Viết Khuyến cho rằng việc đổi mới chương trình, SGK là bộ đang đổi mới từ ngọn, việc cần làm trước hết phải là thiết kế hệ thống giáo dục, có đường hướng rồi thì mới lo đổi mới sách. GS có đồng tình với quan điểm này?

    Số lượt thích

  34. Anh Châu ơi, chúng ta có trao đổi một chút về các con số “khái toán” của đề án đổi mới sách giáo khoa không? Có quá nhiều con số và chúng mỗi lần một khác. Tôi cũng không hiểu là có cần lấy nguồn ngân sách nhà nước cho việc biên soạn sách giáo khoa không?

    Nếu chúng ta chấp nhận không độc quyền sách giáo khoa và sẽ có nhiều bộ sách giáo khoa thì tiền bản quyền sách giáo khoa nằm ngay trong giá bán sách giáo khoa.

    Số lượt thích

    • Con số “khái toán” cũng là một đề tài thú vị. Tôi thấy một chi tiết thú vị là khi khi bỏ ra không biết mấy tỉ đô đi mua tàu ngầm thì ít người kêu ca, trong khi đó đổ tiền vào giáo dục thì như anh thấy rồi đấy. Tôi không nghĩ rằng người dân không muốn đổ tiền công vào giáo dục vì bản thân họ đổ tiền tư rất nhiều vào khoản này. Như vậy nó chỉ phản ánh chỉ số lòng tin vào hiệu quả đầu tư công của giáo dục.

      Số lượt thích

      • Anh Châu ạ, tôi không nghĩ là người dân Việt Nam tiếc tiền đầu tư cho giáo dục. Trong thư tôi gửi BT Luận ngày 15/7/2013, tôi còn đề nghị nhà nước tăng chi giáo dục lên nữa, không chỉ là 20% GDP (vì GDP của Việt Nam nhỏ quá). Tôi còn đề nghị nhà nước bán bớt DNNN để tăng chi giáo dục, tăng đầu tư vào con người – hiền khí quốc gia.

        Mỗi năm người dân Việt Nam đang chi nhiều hơn con số 34.000 tỷ đồng cho khoảng 60.000 con em du học nước ngoài.

        Người dân Việt Nam ủng hộ việc chi nhiều tiền hơn cho giáo dục, anh Châu ạ. Vấn đề tôi và nhiều người quan tâm là chi như thế nào và có đạt được mục tiêu nâng cao chất lượng giáo dục hay không? Căn chứ vào những thông tin về đề án sách giáo khoa, tôi không đủ tin.

        HTN: Ông ấy có trả lời anh không?

        Số lượt thích

        • BT Luận không trả lời ạ. Chắc BT bận bịu quá.

          Số lượt thích

        • Anh Nam, tôi nghĩ con số 20% GDP không chính xac đâu. Đây là 20% ngân sách nhà nước, chứ không phải GDP.

          Nhìn chung cái “khái toán” không tạo được sự tin tưởng. Tôi nghe nhiều người kêu ca nhất về việc mua “thiết bị giáo dục” . Các trường phổ thông bắt buộc phải nhận rồi về đắp chiếu không bao giờ dùng đến.

          Số lượt thích

        • Không phải 20% GDP đâu; chỉ vào khoảng 18% tổng ngân sách quốc gia.

          Số lượt thích

    • Tôi không hiểu lắm con số “khái toán” anh ạ, vì thông tin mà Bộ GD đưa ra giữa ông Thống và ông Hiển mâu thuẫn gay gắt. Nếu thông tin của ông Hiển là đúng thì tại sao khoản 20 ngàn tỷ thiết bị giáo dục lại tống vào trong chương trình SGK, trong đó SGK chỉ có 100 tỷ. Thú thực là tôi không cố gắng hiểu anh ạ.

      Số lượt thích

      • Xin lỗi anh Châu. Tôi gõ nhầm đấy. 20% chi tiêu công (gọi là ngân sách nhà nước cả TW và địa phương), anh Châu ạ.

        HTN: Số phần trăm thì nó cố đinh ở 100%. Nếu anh tăng % cho GD thì đâu đó sẽ mất bớt % đi. Vậy nên đòi hỏi tăng % cho cái mình cần, chưa chắc đã được những người thấy cái khác cũng cần, họ đồng ý bớt của mình đi. Ví dụ tăng % chi tiêu công cho GD, thì phải bớt % chi cho Y Tế.

        Số lượt thích

        • Cụ thể tôi đã kiến nghị thế này, anh Châu nhé:

          “8. Chi cho giáo dục và đời sống, chất lượng đội ngũ giáo viên.

          Ông cha ta nói: “Có thực mới vực được đạo”, điều đó đúng với mọi thứ, trong đó có giáo dục.

          Theo các số liệu tại trang mạng http://www.nationmaster.com, tỷ lệ “Đầu tư công cho giáo dục / Chi tiêu của chính phủ” (“Public spending on education/ Government expenditure”) của một số quốc gia như sau: Trung Quốc – 12,71%, Thái Lan – 19,98%, Singapore – 18,22%, Malaysia – 28,02 và Philippines – 17,22%.

          Ở nước ta, theo các nghị quyết của Đảng, Quốc hội và chủ trương, chính sách của Chính phủ, chi ngân sách nhà nước (cả trung ương và địa phương) cho giáo dục đào tạo và dạy nghề được xác định ở mức 20%. Xét về tỷ lệ % thì con số này không nhỏ so với các nước trên, nhưng vì tổng chi ngân sách của Việt Nam nhỏ hơn đáng kể so với họ (do nền kinh tế có GDP còn nhỏ), con số tuyệt đối chi cho giáo dục đào tạo ở nươc ta thấp hơn nhiều (đặc biệt nếu tính bình quân trên một giáo viên, trên một học sinh).

          Nếu xác định giáo dục là quốc sách hàng đầu, nhân tài là nguyên khí quốc gia, không thể không cải thiện tỷ lệ và tổng chi ngân sách cho giáo dục. Nguồn ngân sách được tăng lên một phần dùng để cải thiện thu nhập cho đội ngũ giáo viên, làm sao để nghề giáo viên trở nên hấp dẫn trong các nghề công chức. Ngoài ra, ngân sách tăng thêm cũng dùng để nâng cấp trường lớp, thiết bị giảng dạy, cấp học bổng khuyến học và các nhu cầu thiết thực khác của ngành giáo dục.

          Chúng ta hoàn toàn có thể bán bớt doanh nghiệp nhà nước để đầu tư thêm cho giáo dục.Khi bán bớt doanh nghiệp, nhà nước đỡ phải đầu tư thêm cho chúng, lại càng có thêm nguồn đầu tư cho giáo dục. Trong khuôn khổ nguồn ngân sách có hạn, nếu cần phải lựa chọn một bên là các doanh nghiệp nhà nước, một bên là chất lượng lao động cho mọi thành phần kinh tế, tôi nghĩ nên lựa chọn cái sau. Nó cần hơn cho sự phát triển lâu dài, bền vững của đất nước Việt Nam.

          Câu “Chuột chạy cùng sào mới vào sư phạm” dân gian nói suốt mấy chục năm qua, đến nay vẫn đúng nếu so sánh điểm chuẩn vào đại học giữa ngành sư phạm và các ngành khác.Nhiều trường, khoa sư phạm tuyển sinh đại học với điểm chuẩn trên dưới 15 điểm, thậm chí có những ngành điểm chuẩn chỉ 12-13 điểm.Những học sinh với các điểm thi các môn chưa đạt trung bình đó, khi ra trường trở thành giáo viên dạy học sinh, họ sẽ đưa nền giáo dục nước ta đến đâu?Số phận các em học sinh của họ sẽ như thế nào?

          Chúng ta cần tìm cách chấm dứt thực tế đau khổ này vì tương lai các thế hệ con em chúng ta và biến nghề sư phạm thành một nghề thu hút người tài, thể hiện rõ nhất qua điểm chuẩn đầu vào của các trường, khoa sư phạm. Muốn làm được như thế, phải có chế độ đãi ngộ tốt đối với nghề giáo.Muốn có chế độ đãi ngộ tốt thì phải có đủ tiền, không thể khác được.”

          Số lượt thích

        • Ý tôi là, anh Châu ạ, với một lượng tiền có giới hạn thì nhà nước ưu tiên tăng đầu tư vào giáo dục, y tế…, giảm đầu tư vào các DNNN. Kinh doanh thì tạo điều kiện cho tư nhân đầu tư vốn, còn nhà nước tập trung đầu tư vào “tài-sản-con-người”, gồm cả giáo dục, y tế, anh ạ. Tôi nghĩ về lợi ích dài hạn của quốc gia, đầu tư vào con người lãi hơn.

          HTN: Bên tư pháp họ có khi nghĩ khác, họ cần tiền để cải cách tư pháp, nhằm bảo vệ con người tốt hơn. Quốc phòng cũng thế, họ cần tiền để bảo vệ lãnh thổ, trong đó con người Việt đang sống.

          Số lượt thích

        • Anh Nam ạ,

          Tôi cũng đồng ý với anh là cái quyết đinh chất lượng giáo dục phổ thông là người thầy, chứ không phải quyển SGK. Khi mình lớn lên, nhớ về thời đi học mình nhớ đến người thầy chứ có ai nhớ đến quyển SGK nó ra làm sao đâu.

          Gần đây, học sinh trường Sư phạm hình như không còn học bổng, vì thế điểm đầu vào kém đi nhiều. Theo tôi, việc bỏ học bổng của SV sư phạm là một policy vô cùng tệ hại. Khi có học bổng, trường SP còn thu hút được con em nông thôn, nhà nghèo học giỏi. Bây giờ thì không biết thu hút được ai.

          Ngược lại, Học Thế Nào có thực hiện một vài cuộc điều tra thì thấy hình như mức sống giáo viên so với mặt bằng xã hội cũng không đến nỗi tệ như thế. Không biết thông tin của chúng tôi có chính xác không?

          Số lượt thích

        • Anh Châu, cái anh bảo là “mức sống giáo viên không đến nỗi tệ” chủ yếu là do dạy thêm, do làm nhưng công việc khác ngoài nghề, – những thứ mà tôi không muốn tiếp tục xảy ra.

          Về bản chất, cái sự học thêm ở Việt Nam hoàn toàn không giống cái sự học thêm ở nước ngoài. Học sinh ở ta học thêm kiến thức cơ bản trong chương trình. Ở nước ngoài, học sinh chủ yếu học thêm năng khiếu theo tố chất cá nhân, ngoài chương trình.

          HTN: Anh có khảo sát nào khác đưa ra kết luận này? Anh có thể chia sẻ kết quả khảo sát này ở đây được không?

          Số lượt thích

        • Anh Châu ơi, tôi có tham gia góp ý cho Quý Hiên về bảng câu hỏi điều tra thực trạng công việc và thu nhập của giáo viên. Sau đó không thấy bạn ấy chia sẻ kết quả điều tra. Gia đình tôi có rất nhiều người đang làm giáo viên đại học và phổ thông (vợ, anh vợ, chị vợ), tôi cũng đánh giá được tình hình khi nói như thế, anh ạ.

          Các giáo viên trong nhà tôi cũng rất chia sẻ các trăn trở và kiến nghị của tôi về giáo dục Việt Nam. May quá! Bị ngay trong nhà phản đối thì rất phiền.

          Số lượt thích

        • Có lẽ phải điều tra lại về cuộc sống giáo viên anh Nam nhỉ. Học thế nào đã chuẩn bị một bảng câu hỏi khá tỉ mỉ, chuẩn bị điều tra, nhưng nghĩ đi nghĩ lại thế nào lại thôi.

          Số lượt thích

        • Rất cần điều tra, anh Châu ơi! Tôi cứ nghĩ là Quý Hiên đã làm rồi cơ đấy, đang định hỏi xin kết quả. Trong tài liệu về cải cách giáo dục Anh, tôi thấy gần như nội dung nào họ nêu cũng kèm theo số liệu điều tra, anh ạ. Còn về góc độ quản trị thay đổi (change management) bọn tôi thường xuyên áp dụng, cái gì không đo đếm được thì không quản trị được, anh ạ.

          Nếu anh và các bạn làm điều tra, tôi sẽ hỗ trợ về kinh nghiệm điều tra.

          HTN: Nhân nói đến quản trị. Trong thời gian ngắn trước mắt, nhóm Đối Thoại Giáo Dục và nhóm Học Thế Nào tập trung vào cải cách quản trị đại học. Chúng tôi sẽ gửi anh giấy mời khi có lịch cụ thể.

          Số lượt thích

        • Bàn với bạn Lương Hoài Nam chút. Bạn đã ở bên xây dựng có lẽ biết tổng số tiền đổ xuống một đoạn đường 10 đồng thì rơi xuống đường chỉ 3 đồng, 7 đồng bay hơi. Dân làm ăn biết cả, kiểm toán nhà nước không kém mà không thấy tin gì. Đấy là cái nhìn thấy sản phẩm. Còn GD thì rất khó thấy sản phẩm nên không ai tin rằng 10 đồng đổ vào GD thì được 1 đồng đâu.

          Số lượt thích

    • Chuyện làm nhiều bộ sách giáo khoa ngày xưa trong clip của ted youth hà nội có đề cập đến rồi bác. Bác Nguyễn Lân Dũng cũng nhiều lần ý kiến quốc hội về vấn đề sách giáo khoa nhưng lực bất tòng tâm về vấn đề mày. Nhiều bộ thì cũng sao đâu nhỉ. Chắc cũng cần tới lúc cổ phần hóa giáo dục rồi. Tiện thể gởi cho bác nào chưa xem cái clip của bác Nguyễn Lân Dũng.

      Số lượt thích

  35. GS có đề xuất việc giám sát và kiến nghị thay đổi sách giáo khoa này cần được uỷ thác cho một Uỷ ban giáo dục quốc gia độc lập với các cơ quan hành chính sự nghiệp của Bộ giáo dục và đào tạo. Vậy Ủy ban này sẽ gồm những ai? Cơ chế hoạt động ra sao? Làm sao để phát huy hiệu quả của Ủy ban này?

    Số lượt thích

    • Theo tôi biết, ở Pháp Uỷ ban giáo dục quốc gia do Tổng thống chỉ định. Uỷ ban này thực hiện nhiệm vụ tư vấn do chính phủ giao phó, có khả năng nghiên cứu, và có thể thẩm vấn những người có liên quan trong ngành giáo dục, để đưa ra những nhận định của mình. Ví dụ như việc thẩm định sách giáo khoa, Uỷ ban có thể thẩm vấn nhà giáo, học sinh và phụ huynh học sinh và những người khác để đưa ra nhận định của mình về tình trạng của SGK hiện hành. Tất nhiên ý kiến này phải độc lập với những người viết SGK và những người in SGK.

      Số lượt thích

  36. Tôi cũng không đồng ý cho việc dịch SGK của nước ngoài, ngay cả sách KHTN. Tuy nhiên, thực sự trình độ, cũng như tính cẩn thận, nghiêm túc trong các hình vẽ minh hoạ,… là vấn đề lớn. Các dịch giả rất đau đầu về việc thể hiện bìa của tác phẩm, chỉ cốt ăn khách theo thị hiếu số đông mà không nêu được nội dung, vì không đọc tác phẩm là ví dụ… Việc này sẽ lớn trong SGK tự viết.

    Số lượt thích

  37. Đừng vội lấy SGK làm xuất phát điểm đổi mới giáo dục. Trinh tự đổi mới giáo dục cần phải xác định theo thứ tự
    Thứ nhất: Học để làm gì? Đào tạo ra sản phẩm con người toàn cầu có hình thù thế nào để đáp ứng mục tiêu hội nhập Quốc tế như thế nào?
    Thứ hai: Học cái gì? Điều này chỉ xác định sau khi xác định rõ mục thứ nhất. Nói đi nói lại thì học cũng để phục vụ cuộc sống. Vậy hãy xem cuộc sống đang cần gì? Lấy một thí dụ tại sao Toán của các nước có tính ứng dụng rất cao trong thực tế cuộc sống thì toán của chúng ta chỉ toàn là học thuật ( Toán nước ngoài học rất nhiều về các cách chọn phương án rất cụ thể và rất đời thường).
    Thứ ba: Học như thế nào? Điều này phụ thuộc vào mục thứ hai. Phải biết học cái gì thì mới chọn cách học thế nào chứ. Mỗi đối tượng môn học, ngành học cũng có phương pháp nghiên cứu và tiếp cận riêng phù hợp.
    Xét một cách tổng thể như vậy thì khi chưa thiết kế lại hệ thống chương trình khung ( mục thứ nhất) thì làm mục thứ hai là viết lại sách để làm gì? và viết cái gì chứ?

    Số lượt thích

  38. Câu hỏi 7: Có cần thiết phải có sách giáo khoa không, hay chỉ có chương trình khung thôi là đủ?

    – Kinh nghiệm cổ Hy lạp. Khoảng 400 năm trước Tây Lịch, Socrates thầy dạy học cho Plato. Sau đó, Plato mở Academy dạy học cho dân chúng. Trong đám học trò của ông có Aristotles. Aristotles lại có đứa học trò tên là Alexander đại đế, 20 tuổi đã cầm binh, bách chiến bách thắng. Không hiểu là những ông thầy đó có SGK không? Những ông ấy có biết mình sẽ dạy cái gì không?

    – Kinh nghiệm ở VN. Hồng Minh: Ở chỗ tôi có những học sinh cầy nát quyển sách giáo khoa, mà rớt vẫn rớt. Thanh Hải: Vì cầy nát SGK nên mới rớt ĐH.

    – Kinh nghiệm ở California. Ở đây có 3 loại học sinh. Học sinh trường công: trường bắt buộc phải cung cấp SGK cho học sinh (luật là luật). Học sinh trường tư: chính phủ không biết họ dạy cái gì, như thế nào, miễn là cha mẹ đồng thuận là được. Học sinh ở nhà (home-schooling): cha mẹ dạy ở nhà, theo guideline của chính phủ.

    Vậy câu hỏi là: SGK có cần thiết không hay là chỉ sửa đổi chương trình khung là được?

    Số lượt thích

    • Đây là một câu trong tài liệu tổng hợp về quá trình đổi mới giáo dục Anh:

      “Impirical evidence from the USA (Chubb & Moe, 1990) is supportive of the view that decentalized schooling systems can produce better results, MEASURED IN TERMS OF EDUCATIONAL OUTCOMES”.

      Điều đó giải thích thực thế mà bạn Phan Như Huyên nói về giáo dục California.

      Tài liệu cũng cho thấy giáo dục Anh đã tiếp thu rất nhiều các kinh nghiệm đào tạo dạy nghề của Đức, lĩnh vực mà Đức mạnh hơn Anh.

      (CEE DP 57: Education Policy in the UK, Stephen Machin & Anna Vignoles, 2006).

      Số lượt thích

    • Bác Phan Như Huyên ơi, tôi e rằng giáo viên ở Việt nam ít người được như Socrates nên họ vẫn cần SGK bác ạ.

      Số lượt thích

      • Đồng ý với anh Châu. Nước nào cũng có sách giáo khoa cả. Chỉ có điều họ không làm sách giáo khoa kiểu nước mình, anh Châu biết rõ quá.

        Số lượt thích

  39. Là một giáo viên THPT tôi thấy việc đổi mới sách giáo khoa hiện nay là vô cùng cần thiết. Kiến thức trong đó có nhiều thứ lạc hậu quá rồi. 😦
    Nhưng nếu vẫn là phương pháp đổi mới của 10 năm về trước thì thật là vô nghĩa và tốn quá nhiều kinh phí.
    Thiết nghĩ:
    1. Ngành giáo dục của VN cần có một mô hình (khung) chương trình chuẩn từ bậc mầm non đến đại học trước khi thay đổi sách giáo khoa. Hiện nay, giáo dục VN thay đổi chóng mặt nhưng thay đổi theo kiểu chắp vá, chẳng khác gì đẽo cày giữa đường. Còn nếu như Giáo sư Châu đã từng nói rằng: “Thi không đảm bảo nghiêm túc thì nên bỏ” – thì tất cả các kì thi của HS VN đều bỏ được.
    2. Nhiều bộ sách giáo khoa, chứ không phải độc quyền như ngày nay: Hãy cho giáo viên, HS, và phụ huynh nhiều sự lựa chọn hơn chứ không phải là bắt buộc. Giáo dục cần có sự cạnh tranh để phát triển chứ không phải là bắt buộc.

    Số lượt thích

    • Bác có thể cho biết một vài ví dụ của những thứ đã quá lạc hậu trong sách giáo khoa hiện hành được không?

      Số lượt thích

      • Theo tôi, đây là một câu hỏi khá quan trọng. Chắc chắn phải có khá nhiều chỗ bất cập, hoặc lạc hậu một cách cơ bản, thì mới cần phải thay đổi sách giáo khoa phải không ạ? Đề nghị các bác đưa ra một vài ví dụ cụ thể.

        Số lượt thích

        • Một vài ví dụ (đã tham khảo qua giáo viên chuyên môn)
          1. Môn sử: Quá nhiều sự kiện, Hình ảnh minh họa ít, hệ thống kiến thức( một số phần) không hợp với tiến trình lịch sử, lịch sử thế giới quá dài,…
          2. Môn địa lý: SGK 12 – kênh chữ nhiều, SGK 10 – nội dung kiến thức nặng, số liệu chưa đc cập nhật,..
          3. Môn toán: kiến thức nặng, cắt một phần nội dung toán cao cấp xuống THPT ( xác suất,…)
          4. Môn GDCD: kiến thức hàn lâm( kiến thức môn triết), nên thay bằng chương trình giáo dục thực tiễn hơn ( giáo dục giới tính, teamwork, hoạt động ngoại khóa, hoạt động hướng nghiệp,…)
          5. Môn tin: SGK 10 – nội dung lạc hậu ( phần : giới thiệu máy tính, mạng máy tính,…

          Số lượt thích

  40. Đây là ý kiến của bạn Phạm Tường Vân, người không biết trèo tường để vào Học thế nào:

    Mình k vào đc trang kia, mình còm ngay đây đc k? Đây là ý kiến của mình:

    Tạm thời tôi chỉ đề cập riêng khía cạnh dạy Văn và học Văn.
    Học Văn trong trường phổ thông để làm gì? Tôi cho rằng cần đạt đc 2 mục tiêu tối thiểu: truyền thụ năng lực cảm thụ (văn chương) và kỹ năng biểu đạt (ngôn ngữ). Nếu xét về 2 khía cạnh này thì SGK của ta hiện nay chỉ làm đc điều thứ 2 ở mức sơ khai, còn điều 1 thì hoàn toàn thất bại, nếu không muốn nói là ngược lại.

    Thời cấp 3 tôi học trường chuyên, ở đây phần “cảm thụ” rất được chú trọng. Để tạo thêm hứng thú cho học trò, vượt ra khỏi khuôn sáo cũ rích và khô cứng, các thầy cô của chúng tôi đã dùng ngay các tác phẩm văn học trên báo Văn Nghệ đang rất đình đám thời ấy để giảng dạy.
    Nhờ vậy mà tôi có cơ hội biết đến Tướng Về Hưu, Vàng Lửa, Kiếm Sắc, Phẩm Tiết, từ đó biết thêm Phạm Thị Hoài, lội ngược lịch sử để khám phá Trần Dần, Lê Đạt, Phùng Quán, Hoàng Cầm, và có cơ hội thâm nhập dòng văn học tiền Đổi Mới của Xô Viết…
    Sự táo bạo, phá rào ấy đã mở ra một cánh cửa lớn.
    Đến giờ tôi vẫn vô cùng biết ơn họ vì điều đó.
    Thế nên, xây dựng 1 bộ SGK như thế nào để giáo viên và học sinh còn những khoảng rộng để update những vấn đề thời cuộc là điều rất quan trọng.

    Số lượt thích

  41. Đối với bản thân em thì mới bước qua giai đoạn cấp 3 từ năm ngoái. Bây giờ đã là một sinh viên đại học năm nhất. Giờ trông lại cấp 3 thì đúng là một cực hình. Năm ngoái clip sự trăn trở của kẻ lười biếng thật sự là một chấn động lớn đối với giáo dục Việt Nam. Lúc đó suy nghĩ lại thì chả lẽ ngày xưa mình học như một con vẹt. Học toán mà chả biết bản chất đạo hàm là gì, môn văn thì học những thứ đã được viết sẵn từ những “ông già” và bắt chúng ta phải được học sẵn theo cái lối tư duy đó. Như thế đã bóp nát cái tư duy và cái tương lai Nobel văn học cho Việt Nam rồi1

    Số lượt thích

  42. Tôi nghĩ thế này: Việc đổi mới chương trình, SGK, đổi mới phương pháp … giống như là cho ăn hay cho cho thuộc bổ vậy.
    Nhưng nếu bệnh không được chữa thì dù có ăn bao nhiêu cơ thể cũng không thể khỏe mạnh mà phát triển được.
    Những thứ bệnh của giáo dục như bênh thành tích chẳng hạn sao không được bàn đến trước nhỉ.
    Từ bệnh thành tích lại đẻ ra bệnh học thêm, rồi bệnh gian dối. Từ bệnh gian dối mới dẫn đến những học sinh học xong trung cấp Tin học mà không soạn được cái văn bản cho ra hồn, không biết bật/tắt máy tính đúng cách. Từ bệnh thành tích dẫn đến những hs giải toán như cái máy.
    Rồi lương và đời sống gv…
    Xin được chỉ giáo ạ.

    HTN: Chủ đề bàn tròn hôm nay là cải cách Sgk. Làm ơn không đi lạc ra ngoài.

    Số lượt thích

  43. Ồ. Ý kiến nhiều quá, đọc suýt kịp. 😉
    Tôi cũng xin góp một ý mà chưa thấy ai bàn.
    SGK là gì? Xưa nay người ta vẫn hiểu SGK là một bộ sách chuẩn, có tính pháp lý do Nhà Nước soạn, bắt tất cả các địa phương, các trường, các giáo viên dạy theo. Hiểu theo cách đó thì Nhà Nước thích lên là thay sách và bắt tất cả phải theo. Vậy chả còn gì để nói, để bàn. Các trường học, các GV chỉ còn một việc là phải đối phó bằng cách lên lớp thì phải dạy theo SGK để không ai kêu ca, khiển trách và mở các lớp học thêm để đảm bảo dạy được những thứ mà các trường, các GV cho là cần đối với học sinh.
    Có lẽ cách hiểu trên không còn phù hợp nữa nên mới phải ngồi lại để bàn bạc. Vậy SGK là gì? Chương trình là gì?
    Theo tôi chương trình là một con đường để GD, để ĐT mà Nhà Cầm Quyền, đại diện người dân, cho rằng nếu thực hiện theo nó thì phần lớn đối tượng (chủ yếu là trẻ em trong độ tuổi) đạt được những mục đích xã hội mà Nhà Cầm Quyền + Người Dân mong muốn. Lại nảy ra mục đích ấy là gì? Theo tôi (tạm) là:
    Về phía Nhà Cầm Quyền: Ổn định XH + đảm bảo quyền lực thể chế = sự phát triển vừa phải của Người Dân.
    Về phía Người Dân: đảm bảo sự phát triển Cá Nhân cho con cái + công bằng XH = hy vọng đời sống tương lai.
    Vậy mong muốn Người Dân là rất khác nhau: người ở nửa dưới mong muốn một mức sàn, người ở nửa trên mong muốn một mức phát triển cao.
    Chương trình, có thể khẳng định là, không thể đáp ứng tất cả mong muốn của Người Dân. Vậy chương trình sẽ đảm bảo mức sàn, ngoài ra ai có nhu cầu cao hơn được khuyến khích, được đảm bảo tự do học hành. Và chương trình có tính pháp lý ở chỗ: các trường học phải thực hiện được tối thiểu là chương trình ấy.
    Còn SGK là một bộ sách được biên soạn để đảm bảo khá chắc chắn nếu thực hiện theo đó thì thực hiện được chương trình. Theo cách hiểu này SGK CŨNG CHỈ LÀ MỘT BỘ SÁCH CÓ TÍNH THAM KHẢO, KHÔNG CÓ TÍNH PHÁP LÝ.
    Theo lí luận như vậy, hoàn toàn có thể có, và cần có nhiều bộ SGK do nhiều tổ chức (Nhà Nước và Tư Nhân) viết; và tuỳ trường có thể lựa chọn dạy theo một hay nhiều bộ SGK đã có, hoặc có thể tự viết SGK để đảm bảo chương trình (Tính pháp lý) và mục đích riêng của trường (= mong muốn của học sinh và gia đình).
    Lại nảy sinh vấn đề : nhiều SGK như vậy thì tổ chức thi TN thế nào? Vì chương trình đã đảm bảo mức sàn (và tính pháp lí) nên thi TN theo kiến thức trong chương trình cho tất cả các đối tượng (bao gồm cả những người tự học, không qua trường lớp) đăng kí từ cấp thấp đến cao trong hệ thông phổ thông.
    Tóm lại theo ý tôi:
    – Nhà Nước đề ra mục đích GD, chiến lược GD dài hạn đại diện cho mong muốn Người Dân.
    – Nhà Nước lên chương trình GD để thực hiện mục đích ấy.
    – Nhà nước viết một bộ SGK để tham khảo và bán để thu hồi vốn và lỗ thì phải chịu trách nhiệm.
    – Nhà Nước đề ra luật GD đảm bảo cho: việc viết SGK (chẳng hạn lỗ 2 lần liên tiếp thì Bộ không được viết SGK nữa); việc thi TN nghiêm túc và cởi mở; các trường tự do dạy theo chuẩn tối thiểu của chương trình; các tổ chức, cá nhân được viết SGK và bán; Nhà Nước đánh giá các trường thông qua các kì thi; các trường đánh giá GV thuộc sự quản lý theo cách của trường.
    Tôi xin nhấn mạnh: không có chuyện sở GD, phòng GD đưa các chuyên viên (có kẻ chưa đi dạy bao giờ) về thanh tra, đánh giá GV.
    Về nội dung SGK thì theo tôi không nhất thiết phải tiên tiến nhất, hiện đại nhất hay là đẹp nhất tốt nhất, … mà là đảm bảo nhu cầu XH thông qua đảm bảo chương trình.

    Số lượt thích

  44. Xin góp một ý nhỏ : đổi mới sgk cần lưu ý một điểm là kiến thức nào quá hàn lâm thì chưa vội đưa vào sgk phổ thông. Nó nên để dành cho bậc học khác cao hơn

    Số lượt thích

  45. Ý kiến tiếp của Phạm Tường Vân:

    Văn chương và Ngôn ngữ là lĩnh vực có cơ hội “bắt vít” với thời cuộc nhanh nhất, so với các môn còn lại, và nếu bỏ lỡ cơ hội này, các thầy cô đang bỏ lỡ cơ hội đem lại nguồn hứng khởi cho học trò trong một thế giới đang biến đổi không ngừng.
    Thế nên, theo mình SGK môn Văn nên mỏng thôi, mà thật giá trị, còn để những “khoảng hở” cần thiết để cho việc ‘bắt vít” với thời cuộc.

    Để tránh việc phải soạn đi soạn lại, mình ước gì việc chọn lựa các tác phẩm đưa vào SGK phải dựa trên những giá trị thực sự vững bền, không đu bám vào thời thế hay thị hiếu.
    Ước các nhà biên soạn có tầm nhìn xa, và khả năng nhận trân đc giá trị.

    Mình mà đc soạn sách, mình sẽ đưa số lượng tác phẩm kinh điển của thế giới nhiều hơn trong nước, bỏ hết dòng văn chương ít văn chương mà chỉ có chức năng tuyên truyền cho thứ chủ nghĩa không sống dai hơn 2-3 thập niên nữa.

    Số lượt thích

  46. Tạm thời tôi chỉ đề cập riêng khía cạnh dạy Văn và học Văn.
    Học Văn trong trường phổ thông để làm gì? Tôi cho rằng cần đạt đc 2 mục tiêu tối thiểu: truyền thụ năng lực cảm thụ (văn chương) và kỹ năng biểu đạt (ngôn ngữ). Nếu xét về 2 khía cạnh này thì SGK của ta hiện nay chỉ làm đc điều thứ 2 ở mức sơ khai, còn điều 1 thì hoàn toàn thất bại, nếu không muốn nói là ngược lại.

    Thời cấp 3 tôi học trường chuyên, ở đây phần “cảm thụ” rất được chú trọng. Để tạo thêm hứng thú cho học trò, vượt ra khỏi khuôn sáo cũ rích và khô cứng, các thầy cô của chúng tôi đã dùng ngay các tác phẩm văn học trên báo Văn Nghệ đang rất đình đám thời ấy để giảng dạy.
    Nhờ vậy mà tôi có cơ hội biết đến Tướng Về Hưu, Vàng Lửa, Kiếm Sắc, Phẩm Tiết, từ đó biết thêm Phạm Thị Hoài, lội ngược lịch sử để khám phá Trần Dần, Lê Đạt, Phùng Quán, Hoàng Cầm, và có cơ hội thâm nhập dòng văn học tiền Đổi Mới của Xô Viết…
    Sự táo bạo, phá rào ấy đã mở ra một cánh cửa lớn.
    Đến giờ tôi vẫn vô cùng biết ơn họ vì điều đó.
    Thế nên, xây dựng 1 bộ SGK như thế nào để giáo viên và học sinh còn những khoảng rộng để update những vấn đề thời cuộc là điều rất quan trọng.

    Số lượt thích

  47. Văn chương và Ngôn ngữ là lĩnh vực có cơ hội “bắt vít” với thời cuộc nhanh nhất, so với các môn còn lại, và nếu bỏ lỡ cơ hội này, các thầy cô đang bỏ lỡ cơ hội đem lại nguồn hứng khởi cho học trò trong một thế giới đang biến đổi không ngừng.
    Thế nên, theo mình SGK môn Văn nên mỏng thôi, mà thật giá trị, còn để những “khoảng hở” cần thiết để cho việc ‘bắt vít” với thời cuộc.

    Để tránh việc phải soạn đi soạn lại, mình ước gì việc chọn lựa các tác phẩm đưa vào SGK phải dựa trên những giá trị thực sự vững bền, không đu bám vào thời thế hay thị hiếu.
    Ước các nhà biên soạn có tầm nhìn xa, và khả năng nhận trân đc giá trị.

    Mình mà đc soạn sách, mình sẽ đưa số lượng tác phẩm kinh điển của thế giới nhiều hơn trong nước, bỏ hết dòng văn chương ít văn chương mà chỉ có chức năng tuyên truyền cho thứ chủ nghĩa không sống dai hơn tuổi thọ của 1 bộ SGK con nít.

    Số lượt thích

  48. Trong lần thay sách giáo khoa trước, có bạn kể thế này:
    Trường mình được chọn triển khai làm điểm thay sách giáo khoa. Khi dạy có người của dự án về dự và lắng nghe ý kiến giáo viên. Khi giáo viên có ý kiến phản hồi, nếu không đúng ý người nghe thì được nhắc: Soạn lại, dạy tiếp. Cứ như vậy đến khi anh em hiểu ra thì thực hiện thế này: bài nào cũng cứ khen hay. Kết quả là vừa nhẹ nhàng tình cảm, vừa được tiền bồi dưỡng. Sau 4,5 năm sử dụng sgk lại thấy nhiều tiếng kêu: Kiến thức trong sách nặng quá.
    Xin lỗi, tôi đã cố gắng nhưng hình như vẫn đi lạc đề thì phải.

    Số lượt thích

    • Tôi không nghĩ là ý kiến của bạn lạc đề. Theo phác thảo triển kế hoạch triển khai chương trình – SGK mới có việc dạy thí điểm. Nhưng theo dư luận thì cách triển khai thí điểm của chương trình hiện hành rất có vấn đề. Mổ xẻ để chỉ ra những sai lầm trong cách làm chương trình hiện hành mà chương trình sau 2015 định “kế thừa” là điều hết sức cần thiết. Hôm trước, tôi cũng thấy một thầy giáo nguyên là chuyên viên ở Sở GD&ĐT Nghệ An bày tỏ sự thất vọng khi nghe nói chương trình sau 2015 sẽ lại dành một phần kinh phí để soạn sách giáo viên, trong khi theo thầy ấy sách giáo viên là một loại “văn mẫu”, thể hiện tư duy áp đặt, tư duy nhồi nhét từ trên xuống dưới.

      Số lượt thích

  49. Theo tôi, giữa ta và các nước Tây phương khác nhau về thể chế chính trị, tư tưởng… nên bàn và so sánh SGK về các môn khoa học xã hội sẽ khó được chấp nhận. Thế nhưng, các môn Khoa học tự nhiên như Toán, Vật lý, Hóa học, Sinh vật học…hoàn toàn có thể học hỏi /mua bản quyền một bộ sách nước ngoài mà ta thấy phù hợp nhất với người Việt. Khoa học tự nhiên thì sự đánh giá các giá trị không phụ thuộc hê tư tưởng!

    Như thế sẽ đỡ mất công, sức thời gian, và có thể tiết kiệm tiền bạc nữa (phải thử hỏi mua mới biết!). Và về giá trị thì có thể yên tâm là trên trung bình!

    Đòi hỏi hoặc trông chờ các nhà chuyên môn cho rằng một bộ SGK (về KHTN) nào đó là hoàn hảo, phù hợp chắc không bao giờ có. Vì làm bao giờ cũng khó, chỉ có chê và tự khen thì dễ. Chư kể sự khác biệt (dù không lớn) trong quan niệm cua các nhà chuyên môn.

    Cá nhân tôi nhận xét SGK về KHTN hiện nay quá dở (xin không nói cụ thể…đỡ mất thời gian), nặng về nhồi nhét, nên thay đổi.

    Các môn KHTN cũng dạy cho con người ta cách tư duy logic, khoa học, nên nếu có sách tốt, dạy tốt thì học trò cũng được lợi nhiều lắm rồi. Dạy kiến thức ít mà khiến trẻ nắm chắc được mạch tư duy trong từng bộ môn khoa học ( nhất là toán học) thì đã giúp cho trẻ phát triên trí tuệ lành mạnh rồi.

    Số lượt thích

  50. Chia sẻ với bạn Huỳnh Trung Thuận.
    GS Ngô nói học toán cần vui, mình nghĩ học văn còn cần vui hơn nữa, nhất là trong thời đại văn hóa nghe nhìn vây bủa.
    Con mình từ chỗ 8 tuổi làm được một lúc 3 bài thơ, 10 tuổi viết vèo 1 cái truyện viễn tưởng, giờ nó gần như chán học văn cực độ, và hậu quả là nó đã không còn tư duy bằng tiếng Việt. 😦
    Tụi nó học // 2 chương trình: VN và Úc, vì thế, những điểm bất cập của SGK VN có cơ bộc lộ.
    Mình đã khảo sát 1 vòng quanh các bạn của con mình, cảm nhận chung là: chương trình Văn tiếng Việt vừa chán, vừa hay bắt học thuộc.
    Học thuộc 1 bài thơ dở, có khác nào bắt hôn 1 mụ phù thủy vừa già vừa xấu?

    Số lượt thích

Newer Comments ›

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

Nhập địa chỉ email để nhận thông báo có bài mới từ Học Thế Nào.

%d bloggers like this: