How We Learn

Từ kẻ sĩ thời xưa đến trí thức ngày nay – Long Biên

T K SĨ THI XƯA ĐẾN TRÍ THC NGÀY NAY

Long Biên

tên thật là Huỳnh Cao Trí [1931(?) – 1995]

Nguồn: http://chimviet.free.fr/thoidai/longbien/longbien_KeSiDenTriThucGN.htm

Trong bài nầy, chúng ta thử tìm hiểu những đặc tính của kẻ sĩ thời xưa và trí thức ngày nay.

Để tránh lạm dụng danh từ, chúng ta cần định nghĩa một cách rõ ràng hơn từ trước đến giờ hai danh từ trên mà người ta thường dùng. Danh từ “trí thức” hay được xem như là tương đương hoặc dịch nghĩa của những danh từ Tây Âu như “intelligentsia”, “intellectual”, “travailleur intellectual”, hoặc “élite”… mà ra, còn “kẻ sĩ” hay “nhà nho” thì được nguời Âu dịch là “lettré”.

Từ đó, người ta thường dùng danh từ “trí thức”, hoặc “kẻ sĩ”, “nhà nho” theo dịch nghĩa những danh từ của người Tây phương hơn là theo đúng nghĩa căn bản của nó ở Đông phương. Vậy nên việc minh định ý nghĩa của danh từ không phải là không bổ ích. Vẫn biết rằng phương pháp chiết tự chưa chắc hẳn sẽ đem 1ại cho ta một cái nhìn toàn diện về một khái niệm, vì ngôn ngữ, cũng như mọi vật trên đời, đều có sanh, có lớn, có biến chuyển, có diệt: nội dung của danh từ cũng vì vậy mà thay đổi theo thời gian. Tuy nhiên, việc phân tích căn tự sẽ giúp chúng ta hiểu rõ nguồn gốc và ý nghĩa căn bản của danh từ mà chúng ta dùng.

I – “KẺ SĨ”

Trước hết là danh từ “kẻ sĩ“. Ai cũng biết rằng trong xã hội thời xưa, kẻ sĩ được xếp vào hàng đầu, không những về địa vị ưu tiên – “nht sĩ, nhì nông, tam công, t thương“ – mà nhứt là về vai trò quan trọng trong xã hội. Yếu tố quan trọng của vai trò này không phải là tài cán quân sự, tổ chức kinh tế hay xã hội…, mà là nêu gương mẫu đạo đức cho quần chúng. Có người dựa trên hệ thống giá trị thực tiễn ngày nay, cho rằng vai trò đạo đức, luân lý không quan trọng, đáng kể, so với những kiến thức khoa học, kinh tế, xã hội… cần phải có để lãnh đạo quần chúng. Tuy nhiên, nếu đặt vào khuôn khổ của xã hội thời xưa, thì yếu tố đạo đức không những được quan niệm, mà chính thực sự là nền tảng đầu tiên trong việc xây dựng và duy trì xã hội.

Trong bất cứ thời nào, xã hội nào, người trí thức thời xưa cũng như thời nay, đều đóng một vai trò quan trọng, và tùy theo quan niệm của xã hội thời đó mà đặc tính của người trí thức có khác nhau.

Chúng ta thử phân tích danh từ “kẻ sĩ“. Nếu viết theo Hán tự, chúng ta có thể tìm hiểu “kẻ sĩ” một cách chính danh hơn. Cần so sánh chữ “sĩ” với 2 chữ “vương” và “thổ” để rõ thêm ý nghĩa. Trong chữ “Vương”, nét ngang trên có nghĩa là “trời”, nét ngang dưới có nghĩa là “đất”, nét ngang giữa chỉ “người”, và nét gạch đổ nối liền ba nét gạch ngang trên: “vua” là người được mệnh của Trời Đất, hoặc đứng trung gian hà hợp giữa Trời Đất để trị vì thiên hạ. Trong chữ “Thổ”, nét gạch dưới chỉ cho “đất”, được nhấn mạnh và viết to như ngụ ý chứa đựng, làm nền tảng cho con người. Trái lại trong chữ “Sĩ”, “người” có một vai trò quan trọng, như vươn mình lên để vượt cả thiên nhiên địa lý.

 

王 (vương) 土(thổ) 士(sĩ)

“Kẻ sĩ” là “người không chịu khuất phục”. Không những không chịu khuất phục mà còn tìm cách ngự trị, vượt lên những khó khăn của thiên nhiên cũng như nhân sự. Kẻ sĩ là người có “chí khí bt khut, đặc điểm quan trọng nhất của lẻ sĩ là “bt khut trước bo tàn. Chí khí ấy được rèn luyện, nuôi dưỡng hằng ngày và được chứng tỏ bao lần trong lịch sử trước ngoại xâm cường bạo, nhứt là dưới thời kỳ thực dân Pháp… Kẻ sĩ đương nhiên phải là nhà ái quốc: như các cụ Phan Đình Phùng, Phan Sào Nam, Vân vân…

Tuy chú trọng trước tiên đến đức độ, nhưng kẻ sĩ cũng không quên trau dồi trí độ, vì đặc điểm thứ hai của kẻ sĩ là “người cầu tiến”. Muốn hành động một cách dũng cảm, cần phải chắc chắn trong sự hiểu biết và phán đoán của mình. Muốn được vậy, cần phải suy nghĩ thấu đáo trước sau, trong cũng như ngoài mình. Rèn luyện trí óc để biết đúng mà dấn thân không sai lạc và có hiệu quả. Kẻ sĩ một khi đã thấy rõ con đường do trí tuệ soi sáng, thì không còn do dư dự gì nữa, chỉ một mực tiến lên con đường mà họ đã vạch sẵn[1].

Nhưng kẻ sĩ cũng rất dè dặt, khiêm nhượng và thành thật đối với mình. “Biết nhng gì mình biết, biết nhng gì mình không biết, đó mi tht là biết[2]. Tử Lộ hỏi Đức Khổng về việc chết, Đức Khổng đáp: “Vic sng còn chưa biết, biết chi đến vic chết”[3], và không bàn thêm nữa…

Tuy nhiên chung quy lại, trí tuệ và dũng cảm cũng chỉ là hai đức tính phụ thuộc, hai phương tiện bổ túc, nhắm thực hiện và phát huy hai đức tính vi tiên nơi kẻ sĩ, là “nhân” và “nghĩa”.

Có dũng cảm mà không có trí tuệ thì sẽ đưa đến những việc làm liều lĩnh tai hại. Có dũng cảm mà không có nhân nghĩa thì sẽ sinh ra trộm cướp bất nhân. Có trí tuệ mà không có dũng cảm, thì tuy thấy việc phải mà không làm (Kiến nghĩa bt vi, vô dũng dã)[4]. Có trí tuệ, dũng cảm mà không có lòng nhân, thì trong hành động sẽ đưa đến cường bạo, vì quên lấy con người làm gốc. Còn có lòng nhân mà không có trí, dũng, thì chỉ có tấm lòng thương người rào rạt, nhưng rồi chỉ “than mây khóc gió”, chứ không hành động gì cụ thể để giúp người. “Nhân, trí, dũng”, đó là ba đức tính không thể không có nơi kẻ sĩ[5].

Ở đây chúng ta thấy rõ đặc tính của kẻ sĩ gần giống như châm ngôn của người Phật tử. “Nhân, trí, dung” thay vì “bi, trí, dung”. Vậy “nhân” khác với “bi” ở điểm nào? Đạo Phật lấy chữ “bi” làm gốc, cũng như kẻ sĩ lấy chữ “nhân” làm gốc. Là một tôn giáo nhắm giải thoát vượt trên cả vũ trụ thế gian, tâm tánh từ bi nơi Phật giáo là một tình thương vô biên vô hạn, không loại trừ một ai, tình thương bao trùm cả mọi sinh vật trên đời.

 (bi) 智 (trí) 勇 (dũng)
仁  (nhân) 智 (trí) 勇 (dũng)

“Nhân” cũng là “lòng thương mọi người”[6]. Nhưng Khổng giáo là một học thuật nhắm cải tạo xã hội một cách trực tiếp và cụ thể hơn, cho nên “tình thương mọi người” nơi kẻ sĩ, cũng vì vậy mà phải được thích nghi với thực tế và giới hạn hơn. Tử Lộ hỏi Đức Khổng: “Người có lòng nhân có ghét ai chăng?” Đức Khổng đáp “Có”, và tiếp theo “Chỉ người có lòng nhân mới thương người và ghét người một cách đúng đắn”[7]. Vậy “nhân” là tình thương, tuy rộng lớn bao la, nhung có phân biệt giới hạn, có suy xét lựa chọn, để hành động được hiệu quả thực tế trong đời.

Nói tóm lại, lý tưởng của kẻ sĩ thời xưa không phải chỉ rèn luyện bản thân mình, mà chính còn là dấn thân để cải tạo xã hội, xây dựng quốc gia phú cường; quyền lợi chung của dân tộc là điều thao thức lo âu trước tiên của kẻ sĩ: “Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”. Có thể nói kẻ sĩ là người kiểu mẫu trong bất cứ xã hội nào lấy đạo đức làm nền tảng và lấy hoà hợp nhân tình làm chung đích.

Ngày nay, với biến chuyển của nhân tình thế thái, với sự xáo trộn văn hoá, kẻ sĩ chỉ còn la một hình ảnh lu mờ trong ký ức, nhường chỗ lại cho một hạng người mà người ta thường gọi là “trí thức”. Vậy chúng ta hãy xem những đặc tính của người trí thức.

II – NGƯỜI TRÍ THC:

Thế nào là người trí thức? Có rất nhiều định nghĩa, nhưng tóm tắt, dựa trên nội dung do mỗi tác giả, chúng ta có thể phân biệt hai quan niệm về trí thức: một có tính cách nhân bản và một có tính cách xã hội.

Quan niệm có tính cách nhân bản thường nhấn mạnh đến giá trị của cá nhân người trí thức, và danh từ “trí thức” hay đượm một màu sắc tốt đẹp cao cả. Trái lại quan niệm có tính cách xã hội thường xem người ”thức” chỉ như là một đơn vị trong một giai cấp xã hội nào đó: vì có một địa vị, hoặc một vai trò nào đó trong xã hội, nên được gọi chung là “trí thức”, chẳng hạn người ta dùng danh từ “trí thức” để chỉ tất cả những “người làm việc bằng óc não” (travailleurs intellectuels), để phân biệt với những người làm việc bằng tay chân (travailleurs manuels). Trong trường hợp này, danh từ “trí thức” có tính cách “trung hoà” (neutre). Lại có khi không những không được đượm một màu sắc nào cả, mà còn có phần bị xem như là thấp kém, so với những giai cấp xã hội khác. Riêng về chúng ta, chúng ta sẽ thử tìm hiểu «trí thức» một cách chính danh hơn.

Trí là gì? Phàn Trì hỏi Đức Khổng về trí, Đức Khổng trả lời: “Trí là hiểu người”. Trí là khả năng suy luận để phán xét phải trái, tốt xấu. Không những «hiểu người» mà còn hiểu vật chung quanh mình: “cách vật trí tri”.

Hơn nữa, chữ “Trí” gồm có chữ “tri” (biết) và chữ “viết” (nói) mà ra. Người có trí không nghững là người hiểu biết sự vật phải trái, mà còn có khả năng diễn tả một cách minh bạch – bằng lời nói, bằng bút mực, hoặc bằng hành động – những hiểu biết của mình ra cho những người khác biết, nhắm mục đích giúp kẻ khác cải tạo và đóng góp vào ích lợi chung.

知(tri) 曰 (viết) 智 (trí)

Một người dù có kiến thức quảng đại, sáng suốt đến đâu, thấy đâu là xấu tốt phải trái, mà chỉ im lặng, chỉ giữ hiểu biết ấy cho riêng mình, không có can đảm, hoặc không đủ nghị lực để phát biểu ra, thì người ấy chưa xứng đáng là người “trí”. Họ chỉ mới xứng đáng với danh từ “tri”, là “người có hiểu biết mà thôi”.

“Thức” là thức tỉnh, là tự hiểu mình. “Connais-toi toi-même” của Socrate. Thức thuộc về sự hiểu biết nội tâm nơi mình, hơn là hiểu biết ngoại vật bên ngoài. Vả lại chữ “thức” gồm có chữ “ngôn” (lời nói: một tư tưởng vừa nảy ra, suy nghĩ 3 lần, rồi phát biểu ra bằng miệng, đó là lời nói), chữ “âm” (tiếng vang) và một bộ có nghĩa là tác dụng: lời nói bên ngoài có tác dụng phản chiếu vào tâm khảm bên trong và làm thức tỉnh mình. Có thể nói chữ “thức” gần như đồng nghĩa với chữ “giác” (phần trên là nửa trên chữ “học”, phần dưới là chữ ”kiến” là thấy) trong Phật giáo.

三(tam) 口(khẩu) 言(ngôn)
言(ngôn) 音(âm) 識(thức)
學(học) 見(kiến) 覺(giác)

Trí thuộc “hiểu biết” (science, savoir), thức thuộc về “lương tri” (conscience). Người trí thức, theo đúng nghĩa của danh từ, là người vừa hiểu biết sự vật, vừa hiểu mình, “hiểu người hiểu ta”, và những kiến thức ấy, họ đem diễn tả, chỉ dẫn cho người khác biết, hầu mong ích lợi chung. Như vậy, người trí thức phải là người vừa có đủ tài trí (science), lương tri (conscience) và đức độ (caractère).

智 (trí) 識(thức)

Ở đây chúng ta cũng thấy thoáng qua ba đức tánh của kẻ sĩ đã vạch ra ở trên, là “nhân, trí, dung”. Nơi người trí thức, tài trí thuộc về “trí”, lương tri thuộc về “nhân”, và đức độ thuộc về “dung” – phải có dũng cảm để dám nói lên sự thực, dù phải có hại cho mình. Nhưng trí thức khác nhau với kẻ sĩ ở một điểm rất quan trọng, là “trí” được kể như vi tiên, được xếp vào hàng đầu, thay vì “nhân” nơi kẻ sĩ: kiến thức khoa học được đặt nặng trước tiên, thay vì sự rèn luyện tâm linh, thay vì “tiên học lễ, hậu học văn” nơi kẻ sĩ. Mẫu người lý tưởng theo quan niệm ngày nay – trí thức – trước tiên phải có kiến thức rộng thay vì nhân nghĩa, đức độ cao, như người lý tưởng ở xã hội thời xưa. Hay nói một cách đúng hơn, đó là hai quan niệm khác nhau giữa văn hoá Tây phương và Đông phương. Tây phương và tân học chuộng về thông thái (le savant), Đông phương và cựu học chuộng về đức độ (le sage).

Sau khi đã định nghĩa danh từ “trí thức”, chúng ta hẳn thấy rõ rằng có một số rất đông những người tự mệnh danh, hoặc được người ta gọi là “trí thức”, thật ra không xứng đáng với danh từ ấy, theo đúng nghĩa của nó. Nói riêng về Việt Nam, người có đỗ đạt, có bằng cấp cao không thiếu gì, nhưng họ không phải là người trí thức, vì: người ta có thể “thông thiên văn, đạt địa lý” nhưng tâm khảm chỉ là một mảnh đất hoang vu, nghèo nàn về tâm tánh, đức độ; người ta có thể “cách vật trí tri”, nhưng chưa tự thức được mình; người ta có thể thấy rộng hiểu xa, có thể giác ngộ được mình, nhưng không có can đảm hoặc nghị lực để nói lên sự thực mà mình biết, hầu chỉ dẫn đúng đường cho quần chúng, nhắm mục đích giác tha và ích lợi chung.

(Theo tạp chí Gió nội, số 22-24, tháng 4-6/1968)

[1] Luận ngữ: Quyển V, chương IX; Quyển VII, chương XIV.

[2] Luận ngữ: Quyển I, chương II.

[3] Sách đã dẫn: Quyển VI, chương XI.

[4] Sách đã dẫn: Quyển I, chương II.

[5] Sách đã dẫn: Quyển VII, chương XIV.

[6] Sách đã dẫn: Quyển I, chương I.

[7] Luận ngữ: Quyển II, chương IV.

longbien_KeSiDenTriThuc1GN

 

 

 

longbien_KeSiDenTriThuc4GN

longbien_KeSiDenTriThuc3GN

longbien_KeSiDenTriThuc2GN

 

 

 

longbien_KeSiDenTriThuc6GN

longbien_KeSiDenTriThuc5GN

 

longbien_KeSiDenTriThuc7GN

Advertisements

Tagged as: ,

12 phản hồi »

  1. Hẳn nhiều trí thức ngày nay sẽ chột dạ khi đọc được bài này.

    Like

    • “Tước hữu ngũ sĩ cư kỳ liệt,
      Dân hữu tứ sĩ vi chi tiên.
      Có giang sơn thì sĩ đã có tên,
      Từ Chu Hán, vốn sĩ này là quí”.

      Tôi không biết làm thơ như bác Hoàng Sa. Chỉ xin trả lời bác Phong Phong bằng mấy câu của Nguyễn Công Trứ. Suốt đời, tôi rất kính trọng những người có ý thức trách nhiệm với xã hội
      “Vũ trụ chi gian giai phận sự”,

      Like

  2. Bướm Vàng
    (hoàng sa. tặng Kẻ Sĩ TCS. 2015)

    Bướm vàng anh đi đâu mà vội?
    Mà vội bướm vàng bướm vàng ơi !
    Mà vội bướm vàng bướm vàng ới !
    Anh đi đâu mà vội?
    Bướm vờn gió thảnh thơi,
    Anh đi đâu mà vội?
    Bên đồi bướm đùa chơi,
    Anh đi đâu mà vội mà vội?
    Bướm này bướm nhỏ nhoi.

    Này bướm hoa vàng,
    Đẹp quá mơ màng !
    Tơ chiều bướm chập chờn,
    Vô thường bướm lượn quanh.

    Bướm vàng anh đi đâu mà vội?
    Mà vội bướm vàng bướm vàng ơi !
    Mà vội đá vàng đá vàng bay !
    Anh đi đâu mà vội?
    Đá vàng đã ngủ say
    Anh đi đâu mà vội?
    Bên hồ nước còn trôi
    Anh đi đâu mà vội mà vội?
    Bướm này bướm là ai?

    Like

    • Đọc tuổi trẻ online về PN Hoàng Đoan và Phan Huyền Thư cùng với hai bài thơ Buổi Sáng và Bạch Lộ, tôi lật đật xem lại bài hôm trước, tự xét xem mình có phải tội đạo thơ không.

      Tôi đã cố tình viết Bướm Vàng để tặng TCS, rặp theo bài “Bống Bồng Ơi” mà TCS đã tặng Hồng Nhung. Đến khi TCS ra đi thì đáng lẽ HN phải có lời nói: anh đi đâu mà vội, nhưng không có. Bài này thay cho HN nhắn gởi TCS: Bướm vàng, anh đi đâu mà vội?

      Tôi bỏ lửng xem có ai trên HTN nhận ra bài đó không? Tôi đạo thơ đạo nhạc vì TCS vì HN !

      Like

  3. Nguyễn Công Trứ và Cao Bá Quát, cả hai đều khí khái, một trung thần một loạn quân. Như vậy, CBQ có phải là kẻ sĩ không?

    “Tài trai sống ở đời,
    Đã không làm được việc phơi gan, bẻ gãy chấn song, giữ vững cương thường.
    Lại ngồi nhìn bọn cầm quyền sói lang hoành hành,
    Đến lúc tuổi già thì mặc áo gấm ban ngày về bôi nhọ quê hương.
    Chỉ cúi đầu luồn xuống mái nhà thấp, nhục cả khí phách,
    Đến lúc già thì gối đầu vào vợ con mà chết,
    Giả sử hạng người ấy xuống suối vàng gặp hai cụ (Chu Văn An và Nguyễn Trãi),
    Thì cũng mặt dầy, trống ngực đánh, thần sắc rũ rượi ra mà thôi…” (CBQ)
    http://maxreading.com/sach-hay/cao-ba-quat-cuoc-doi-va-su-nghiep/phan-i-36877.html

    Like

    • Nhân sinh quan và vũ trụ quan khác nhau. Một bên làm quan, một bên có lúc làm giặc. Nhưng đối với nhiều người, Cao bá Quát cũng là một kẻ sĩ, biết nhận định tình thề, dám dấn thân. Không thành công nhưng ít nhất ông đã góp phần cho gia tài văn chương để lại hậu thế.

      Ở trời Tây, xã hội học định nghĩa rằng giới tinh hoa – les élites – có ba vai trò
      . nhận thức rõ thực trạng xã hội– có học, biết sâu hiểu rộng, kể cả vốn đạo đức và triết lý – tầng lớp tinh hoa của xã hội theo nguyên tắc là người hướng đạo dân tình, định nghĩa phải-trái, …
      . vai trò quyết định – thí dụ của Nguyễn Công Trứ và Cao bá Quát là quyết định theo phò vua hay đi làm giặc. Chẳng thà như thế còn hơn là những người làng nhàng cứ “gió chiều nào che chiều ấy”.
      . vai trò làm gương, làm khuôn mẫu. Ngày xưa, ta không có những chữ như “thần tượng” hay “idols”, nhưng Nguyễn Công Trứ và Cao bá Quát, cả Nguyễn Khuyến và Tú Xương, … thuộc vào “hạng” đó.

      Hannah Arendt cũng quan niệm rằng ở đời ta có thể theo vita activa (cuộc sống năng động) hay vita contemplativa (cuộc sống trầm tư) mà.

      Cái cần không là để “có danh gì với núi sông” mà là sống …tử tế

      Like

      • Đúng vậy!

        —–
        Một nghìn năm trước người ta đã bàn về việc này, và một nghìn năm sau sẽ vẫn có người bàn nữa.

        Một nghìn năm trước người ta bắn nhau bằng cung tên, hiện nay ta bắn nhau bằng súng, một nghìn năm sau con cháu bắn nhau bằng tia laser.

        Hãy thoát vượt khỏi những điều đó.

        —–
        Nhưng…

        Chọn lựa giữa cảm xúc và danh tiếng không phải dễ.

        Quần áo, xe cộ, vũ khí…, có thể thay đổi, mặt trăng có thể nhỏ đi một tí, nhưng nguyên lý bất định không thay đổi.

        Ở lục địa già châu Âu, đô thị và nông thôn, cơ sở hạ tầng đã hòa trộn vào thiên nhiên cân bằng, các chế độ (bảo hiểm) xã hội tốt, sống cũng dễ.
        Ukraina và những người di cư đã làm châu Âu thức tỉnh!

        —–
        Ở châu Á và Phi, mọi thứ còn hoang dã, còn nhiều “vượn” nắm quyền nên người sống không phải dễ.

        Kẻ chưa nắm được chân lý (đạo) bỏ về vườn, thiếu thông tin thành ra cực đoan, ngu muội.
        Người nắm được các quy luật, sống ẩn cư thành Quỷ Cốc tử, La Sơn phu tử…

        Nay mạng toàn cầu đưa thông tin đến mọi nơi, chả việc gì ta phải sống ở các đô thị ngập nước, ô nhiễm như những bãi rác.

        —–
        Tự túc được thì muốn tử tế sẽ được. Còn chuyện danh lợi – sao ta phải nghe lời khuyên từ hàng trăm, ngàn năm trước? Chả phải ta, với học thuật và nền văn minh phát triển, đang thông thái hơn họ sao.

        Ai cũng chỉ được sống một kiếp người, đằng nào cũng chết, thì thích sống thế nào thì sống. Nhận được số phận nào, thì sống theo số phận ấy.

        —–
        Không một ai được viện bất kì lý do nào, để thay đổi số phận của người khác.

        Like

  4. Tôi mạo muội góp vào 2 ý kiến:

    – Hoàn toàn nhất trí với tác giả ở đoạn kết của bài viết. Từ đây mà suy mới thấy dân tộc VN, đất nước VN hôm nay thật sự đang lâm vào khủng hoảng vì đội ngũ trí thức thực sự có lẽ thuộc dạng… “hàng” hiếm. Hãy nhìn các “trí thức” nước nhà đang cãi nhau chuyện phong học hàm GS, PGS thì rõ! Thật đau lòng, đất nước mấy ngàn năm văn hiến và đã 40 mươi năm hòa bình “dưới sự lãnh đạo tài tình và sáng suốt của Đảng ta” – dĩ nhiên cũng toàn là “trí thức” nhưng giờ đây lại cãi nhau về chuyện bé tẻo teo này?! Nhưng có lẽ, khốn nạn và tàn nhẫn nhất là những ông “trí thức” đang nắm quyền quản lý Nhà nước dù đã thừa nhận việc độc quyền phong GS, PGS thời gian qua là một sự bất cập và không giống nước nào trên thế giới nhưng vẫn không chịu từ bỏ thói bảo thủ, không dám vượt qua thói ích kỉ, nhỏ nhen để ngồi xuống đối thoại giúp Trường ĐH Tôn Đức Thắng hoàn thiện cơ chế phong GS, PGs của họ. Cứ mở miệng ra “cả vú lấp miệng em” theo kiểu “tự chủ nhưng phải trong khuôn khổ” hay “phải đúng luật”, “yêu cầu ĐH Tôn Đức Thắng báo cáo” thế nọ thế kia. Trong khi đó, với vai trò quản lý Nhà nước và một khi anh đã nhìn thấy sự bất cập thì phải tham mưu cho Chính phủ, Nhà nước sửa đổi lại nhưng điều luật không còn phù hợp với thực tế cuộc sống (nhất là tromg hoàn cảnh hội nhập quốc tế như hiện nay) đồng thwoif khuyến khích động viên những cách làm mới, tiến bộ mới đúng. Chỉ cần một thái độ này thôi thì mọi chuyện đã có thể giải quyết xong rồi chứ có gì mà cứ cãi nhau, đổ lỗi cho nhau như vậy. Và thay vì cầu thị ngồi xuống đối thoại chứ đâu cần ra oai chứng tỏ mình quan trọng để dẫn đến nguy cơ “đối đầu”? Sao không tự nhìn lại mình xem, toàn “Trí thức”, GS, Ts hết cả nhưng mấy chục năm qua chỉ có đổi mới chương trình GD nhưng làm không xong; hay chỉ mỗi một chuyện tuyển sinh đại học hàng năm nhưng năm này qua năm khác làm chẳng ra gì cái gì…giờ lại còn tranh nhau chuyện nhỏ nhặt này nữa? GS, Ts sinh ra là để làm mấy chuyện này sao?

    – Tác giả của bài viết này (xem tại đây http://viet-studies.info/kinhte/NQuangDy_KhungHoangLongTin.htm) nếu căn cứ vào bài viết trên hẳn nhiên có thể xem là một trí thức đúng nghĩa nhưng thử hỏi với đa phần giới “trí thức” đang nắm quyền lãnh đạo đất nước VN hôm nay có mấy ai dám vượt qua nỗi sợ hãi, sự xấu hổ để thừa nhận để từ đó lắng nghe và tin dùng? Nếu thế thì đất nước này không chỉ khủng hoảng mà còn có nguy cơ diệt vong nếu như không có một sự thay đổi quyết liệt và mạnh mẽ trong tương lai??? Than ôi, dân tộc tôi, đất nước tôi vì đâu đến nỗi này?

    Liked by 1 person

    • Khủng hoảng khắp nơi, bác RLB ạ !
      Tại sao ?
      Có nên bi quan chăng ?

      Like

      • Bác hoàng sa ơi, chính những chế độ chính trị XH chuyên chế độc tài đã đẩy người dân vào bước đường cùng, buộc họ phải bỏ quê hương mà tha phương cầu thực. Cái giá cho những cuộc vượt biên qua biển, qua rừng, chui hàng rào thép gai là quá đắt. Họ phải đánh đổi cả bằng mạng sống của bản thân và người thân.
        Em hiểu tại sao họ ra đi, đem theo cả một bầy con nhỏ. Đơn giản vì tại miền đất mới, con cái họ được cắp sách đến trường, bất kể là trai hay gái, là da mầu hay da trắng, là đạo hồi hay thiên chúa, là giàu hay nghèo. Tuần trước khai giảng ở vùng miền nam nước Đức, con em của những người xin tỵ nạn được đến trường như bao công dân nhí khác, được bồi dưỡng về tiếng và văn hoá, được chăm sóc y tế, nhà ở… Những thanh niên từ Syria, Afghanistan, Eritrea may mắn sống sót khi vượt biển, hầu hết đều không biết bơi. Sau khi đăng ký xin tỵ nạn và được đưa về nơi ở, họ còn được một số các CLB thể thao bản xứ tình nguyện dạy họ …tập bơi! Phải nói XH này thật nhân đạo và đầy tình người, bác ạ, vì họ không lấy cái cớ chống các thế lực đạo hồi cực đoan để mà bỏ tù hết các anh da ngăm, tóc quăn, mũi mỏ quả, râu quai nón, cầm kinh koran như một số chế độ khác đối xử với người không chung chính kiến.

        Liked by 1 person

      • Khủng hoảng “lụt lội” ở tp HCM bác ơi:

        Like

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Nhập địa chỉ email để nhận thông báo có bài mới từ Học Thế Nào.

%d bloggers like this: