How We Learn

Bàn về chuyện tự học – Cao Xuân Hạo

Trước hết, cần phải nói rằng, tự học là một chuyện vạn bất đắc dĩ, vì ai cũng biết câu tục ngữ “Không thầy đố mày làm nên”. Một câu hoàn toàn đúng, đúng hơn là người ta tưởng rất nhiều.

 

Có lẽ không ai lại không muốn có thầy khi cần học một nghề gì, hay dù chỉ là một trò hay một mẹo vặt nào cũng vậy. Và dù không có thầy “chính danh” thì vẫn có thể học từ những người mình quen biết. Đôi khi những người này, chính nhờ cái số đông và tính đa dạng của họ, còn có thể dạy cho mình nhiều hơn và một cách có hiệu quả hơn cả thầy nữa. Học thầy không tày học bạn kia mà!

Viết đến đây tôi sực nhớ đến lời một nhà văn Pháp mà tôi không nhớ tên, nói rằng xưa nay chưa có và không thể có người nào thực sự tự học cả. Và chỉ có những kẻ cực kỳ hợm hĩnh và vô ân mới có thể nói khoác rằng mình là người tự học.

Quả đúng như vậy: ai mà chẳng học của người khác? Làm gì có ai không nhờ người khác mà biết được phần lớn những gì mình biết? Trước tiên, người ta học mẹ mình, rồi đến bố mình, rồi đến những người sống quanh. Và nếu không nhớ điều đó mà nói rằng tự mình tìm biết lấy mọi sự thì đúng là cực kỳ ngu dại, hợm hĩnh và vô ân.

Cho nên, phải hiểu hai chữ “tự học” theo một nghĩa hẹp hơn rất nhiều, kể cả chiều rộng lẫn chiều sâu. Và nếu có ai không được một người thầy trực tiếp dạy bảo cho một cái gì đấy, thì cũng có những người thầy gián tiếp dạy mình bằng tấm gương của cách sống và cách hành động của họ. Tấm gương ấy có thể tích cực hay tiêu cực: những hành vi xấu xa hay đáng ghét mà ta chứng kiến và thể nghiệm từ người khác cũng bổ ích cho ta không kém gì những hành vi tốt đẹp, nếu ta nhờ cái “tính bản thiện” vốn có của con người mà biết ghét cái xấu và yêu cái tốt.

Sau khi đã hạn định khái niệm “tự học” như vậy, ta hãy trở về với hai chữ tự học đúng như số đông thường quan niệm. Người tự học là một danh từ (hay danh ngữ) có ít nhiều sắc thái “xấu nghĩa” trong nhiều thứ tiếng khác nhau. Cho nên ngay cả những người vốn tự hào rằng mình tự học mà thành tài cũng thấy khó chịu khi có ai giới thiệu mình bằng danh từ này. Vì, trong ý thức của phần đông, khó lòng có ai “tự học” mà thành tài thực sự, và chính những người “tự học” cũng có phần nào chia sẻ cái ý thức ấy, dù những người tự học có tự hào đến đâu về những nhân tố chủ quan và khách quan đã cho phép họ gây dựng lấy sự nghiệp của mình.

Cách đây bốn mươi năm, một người bạn học cũ, khi thấy tôi ngồi mỗi ngày mười tiếng trong Thư viện Khoa học ở phố Lý Thường Kiệt để đọc cho bằng hết các sách ngôn ngữ học, tri thức luận và logic học trong đó, có khuyên tôi thôi làm cái việc dã tràng xe cát ấy đi, vì nếu muốn học giỏi bằng một anh phó tiến sĩ của Nga, một người Việt Nam tự học phải thông minh gấp ba và đọc gấp mười mới được. Lòng tràn đầy tự ái, tôi đáp: “Sao anh biết tôi không thông minh gấp ba và sẽ đọc nhiều gấp mười nó?”

Thật ra, càng về sau, tôi càng hiểu là câu nói của bạn tôi hoàn toàn đúng.

Cố giáo sư Hoàng Tuệ có kể lại cho tôi và nhiều người khác nghe rằng, vào những năm 70, khi ông nhắc đến tên một nhà ngữ học Việt Nam có tiếng trong khi nói chuyện với A.G.Haudricourt, nhà ngữ học Pháp lừng danh này đã thốt lên một câu làm cho ông chột dạ: “Cái anh chàng tự học ấy sẽ không làm được gì nên thân đâu!”

Ông kể thêm rằng lúc bấy giờ, ông nghĩ bụng: “Chắc Haudricourt tưởng tôi là dân “chính quy”, tốt nghiệp đâu ở Liên Xô hay ở Mỹ về, mới nói như thế” (vì ông hiểu câu trên có hiệu lực đối với tất cả những người tự học). Ông quên mất rằng chính Haudricourt cũng là người tự học. Nhà ngữ học nổi tiếng này vốn là một kỹ sư Nông học, chưa hề được đào tạo chính quy về ngữ học bao giờ, nhưng đã viết nhiều sách và bài vở về ngành này, nhất là về ngữ học lịch sử. Và ngay sau khi chứng minh được nguồn gốc Môn-Khmer của tiếng Việt năm 1954, 1959 thông qua sự chuyển biến của các phụ âm thành thanh điệu, ông đã được toàn giới đồng nghiệp trên thế giới coi là một nhà ngữ học lớn, mặc dầu mãi đến năm 1984, nghĩa là khi đã thành một cụ già bảy mươi mấy, ông mới có bằng tiến sĩ.

Kinh nghiệm ấy của Haudricourt và của một số nhà bác học khác cho thấy rằng người tự học không phải bao giờ cũng kém cỏi. Và nếu đem số người tự học mà thành tài so với số người có bằng cấp hẳn hoi mà dốt nát, chưa chắc bên nào đông hơn. Nhưng cái định kiến làm cho hai chữ tự học có sắc thái coi thường tuyệt nhien không phải là vô căn cứ. Nói gì thì nói, chứ những khó khăn mà người tự học chắc chắn là lớn gấp bội so với những khó khăn của người được đào tạo chính quy.

Trên con đường học vấn của người tự học nhan nhản những cạm bẫy cực kỳ nguy hiểm khiến cho tri thức của họ có nguy cơ lệch lạc hoặc chứa những lỗ hổng rất lớn mà bản thân họ không hay biết. Tôi và các bạn đồng nghiệp đã từng nhiều lần giật mình toát mồ hôi lạnh mỗi khi nhận ra một lỗ hổng to tướng nằm trong vốn tri thức của mình, trong khi đang làm nhiệm vụ của người dẫn đường cho cả một lớp thanh niên đi theo với một lòng tin tuyệt đối.

Cố bộ trưởng Tạ Quang Bửu có một bài viết rất hay về giai đoạn khủng hoảng tinh thần mà một số nhà phát minh lớn trong lịch sử nhân loại đã trải qua, khi họ giật mình nhận thấy điều họ mới phát minh bác bỏ các bậc tiền bối của họ một cách quá phũ phàng. Vì lòng ngưỡng mộ và sùng kính sâu xa đối với những người mà xưa nay họ vẫn coi là thầy, họ thấy mình quá táo tợn và hỗn xược. Một câu hỏi khủng khiếp hiện lên trong tâm trí họ: “Chẳng lẽ những con người từng làm loé lên trong tâm trí mình cái tia sáng làm nên tất cả những gì giá trị nhất trong tri thức của mình, chẳng lẽ những con người ấy sai? Hay chính vì còn quá dốt mà mình nghĩ ra cái điều mới mẻ này, cái phát minh mà mình tưởng đã đủ để phủ định họ?”

Thế là các nhà cách tân bắt đầu soát lại từ đầu những luận điểm của mình để tìm cho ra cái chỗ sơ hở nào đó đã dẫn tới chỗ phủ định các bậc thầy. Cái việc đó làm thành một cơn vật vã kéo dài suốt một thời gian dài lao tâm lao lực. Hầu hết các nhà khoa học lớn, trước khi dám công khai phủ nhận những lời phàn truyền có tính chất Thánh kinh mà họ đã học thuộc lòng từ thuở bé từ những bậc tiền bối mà họ vẫn hằng sùng kính, đều phải trải qua cơn vật vã ấy.

Ở đây có thể có hai khả năng. Một là người làm khoa học, sau những cố gắng kiểm nghiệm lại, thấy rõ mình nhầm ở một cái khâu nào đó, bèn từ bỏ giả thuyết đã đề ra, trở lại điểm xuất phát và bắt đầu lại quá trình khảo sát. Hai là anh ta cảm thấy mình không nhầm, ngay cả khi nghe những lời phản biện của các bạn và các thầy, vì anh có được những lý lẽ căn cứ trên những dữ liệu đủ chắc chắn để bác bỏ những lời phản biện đó và xác nhận lý thuyết của mình như một bước cách tân thực sự. Dù kết quả của cuộc kiểm nghiệm ấy có đau xót ra sao, thì anh ta cũng trưởng thành lên một bước rất dài. Miễn sao anh trung thực với chính mình và với các sự kiện có liên đến vấn đề, để chấp nhận một kết luận đúng, dù nó có làm tổn thương đến lòng tự ái của anh đến đâu đi chăng nữa.

Với người tự học, khả năng vẫn nhầm lẫn ngay cả sau khi trải qua cuộc khủng hoảng ấy lớn hơn rất nhiều so với người được đào tạo chính quy. Vì sự phản biện trong cảnh cô đơn là việc cực kỳ khó khăn. Ở đây có một vực thẳm không đáy chờ sẵn người tự học: đó là thảm cảnh của chứng vĩ cuồng, mà tôi đã có dịp bàn ở một chỗ khác. Lâm vào thảm cảnh này, người tự học sẽ trở thành kẻ điên rồ không phương cứu chữa, một phế nhân không có lấy được niềm an ủi tối thiểu của các phế nhân là lòng thương xót của đồng loại: không ai có thể xót thương một kẻ giương giương tự đắc, tự cho phép mình khinh miệt mọi người chỉ vì mình học không đến nơi đến chốn.

Người trí thức chân chính không hẳn là người biết nhiều. Điều quan trọng hơn là họ biết rõ mình biết cái gì, và không biết cái gì. Biết rõ mình không biết cái gì khó gấp ngàn lần biết rõ mình biết cái gì. Và điều đó chính là thước đo chính xác nhất của cái gọi là “trình độ văn hoá”.

Người có học vấn thực sự, nhờ đã trải qua những bước đường gian nan, cực nhọc để có được những tri thức mà trước kia mình tưởng rất dễ, biết rằng những điều mình học được chỉ như hạt muối bỏ bể so với những điều mình chưa học. Và bao giờ cũng phải có học một cái gì đã, rồi mới bắt đầu biết là mình không biết cái gì. Cho nên người có học không bao giờ nghĩ rằng có những ngành nghề mà mình không cần giờ học nào cũng có thể bàn đến được, càng không bao giờ nghĩ rằng mình đủ sức viết hàng ngàn trang sách về những môn ấy để dạy mọi người.

Đáng tiếc là khá nhiều người đã thành công rực rỡ trong một lĩnh vực nào đó rất dễ có ảo giác là người lỗi lạc như mình học gì cũng giỏi và thậm chí không học cũng biết. Ngay từ cái giây phút mà ở người trí thức sinh ra cái ảo giác này, thì anh ta lập tức không còn là người trí thức nữa và trở thành con người lố bịch và ngu muội nhất thế gian: một kẻ vĩ cuồng. Đối với người tự học, cái hiểm hoạ này dễ trở thành hiện thực hơn đối với người học chính quy rất nhiều.

Cho nên, người tự học không nên tự ti, chỉ nên cảnh giác đối với bản thân. Không có một người thầy để kiểm tra mình, để thường xuyên nhắc nhở cho mình nhớ rằng mình chưa trở thành vĩ nhân trong lĩnh vực của mình và không biết gì trong các lĩnh vực khác, thì chính mình phải thường xuyên làm việc đó thay cho người thầy.

Nhưng trong thực tế, nhất là ở nước ta, số người có năng khiếu mà được học chính quy xưa nay cực hiếm, cho nên việc tự học cần phải được khuyến khích và giúp đỡ bằng mọi phương tiện. Ở các nước tiên tiến, nơi mà điều kiện để học chính quy rất thuận lợi , những loại sách tự học vẫn được xuất bản rất nhiều, và cho rất nhiều ngành nghề khác nhau, trong khi ở ta loại sách này rất hiếm (trừ sách học tiếng Anh).

Nhưng bao giờ nói đi rồi cũng phải nói lại: người được học chính quy không phải bao giờ cũng thành tài, cũng trở thành người có học thức. Bên cạnh cái định kiến cho rằng người tự học không bao giờ học đến nơi đến chốn, lại có cái định kiến cho rằng chỉ cần tốt nghiệp từ một trường lớn, có một người thầy danh tiếng lừng lẫy, là đủ bảo đảm một vốn học thức uyên thâm.

Đến đây, lại phải nói ra một điều mà thoạt nghe có vẻ ngược đời. Đó là dù có học trường gì, thầy nào nổi tiếng đến đâu chăng nữa, thì nhân tố quan trọng nhất, quyết định kết quả mỹ mãn của quá trình đào tạo vẫn là cái công tự học của người học trò. Tự học ở đây chỉ cái phần tích cực, chủ động, quyết đoán của người học. Vai trò quyết định sự thành công hay thất bại của quá trình học tập là vai trò của người học, tuy vai trò của người dạy không phải không quan trọng.

Ở nhà trường, dù chỉ nói đến môn học chính, người đi học chỉ học một tuần mươi giờ là cùng. Thì giờ còn dư dùng để tự học (tự quan sát thêm sự kiện, tự tìm dẫn chứng, tự kiểm nghiệm thêm các giả thuyết, tự đọc thêm sách vở, tự liên hệ thêm với thực tế . ) nhiều gấp mấy 2-5 lần so với thì giờ trên lớp. Cho nên ngay đối với người học chính quy, việc tự học vẫn là chính, kể cả khi lên lớp nghe giảng hay hoạt động trong những buổi thảo luận

Người thầy giỏi có thể lầm cho một số học trò trở thành một người say mê môn học mà vốn mình không thích thú gì. Nhưng với một người thầy không giỏi, người học trò ham học cũng có thể tìm thấy hứng thú như khi đọc một cuốn sách hay. Còn với một người học trò không ham học chút nào thì dù thầy có gíảng hay đến bao nhiêu cũng không gây được men say trong lòng người ấy. Và dĩ nhiên họ không hơi đâu mà tìm sách đọc thêm.

Vả chăng, ở đây cũng còn phải tính đến nhiều nhân tố khác nữa: gia đình, môi trường xã hội

Người lấy danh vọng của trường và của thầy làm niềm tự hào của mình cũng không khác bao nhiêu so với người lấy tấm bằng làm mục đích của đời mình. Đó là những người lấy danh vọng và địa vị làm mục đích, chứ không phải là những người ham học. Họ cũng giống những người lấy danh vọng tổ tiên làm niềm tự hào cho đời mình. “Ông nội tớ đỗ trạng nguyên, thì tớ đủ hơn mọi người trong tỉnh rồi, còn gì phải học nữa?”

Tôi không phủ nhận tầm quan trọng của di truyền. Cái gen tài năng rất có thể là một nhân tố không thể thiếu được trong sự nghiệp của một nghệ sĩ hay một nhà bác học. Nhưng xưa nay ai cũng biết không phải 100% con cháu dòng giống đều là những người tài năng. Như rất nhiều bậc thiên tài khác đã khẳng định, nhân tố di truyền chỉ cho ta điều kiện tiên quyết mà thôi. Là con nhà nòi, ta có đúng 10% khả năng trở thành nhân tài. Còn 90% nữa là do sức lao động bỏ ra trong ba bốn chục năm đèn sách. Con nhà nòi, dù có năng khiếu bẩm sinh đến đâu chăng nữa mà không dày công học hỏi, nghiên cứu và thực nghiệm, thì mãi mãi chỉ là kẻ thất học mà thôi.

Nói tóm lại, tự học là một cách học như mọi cách học khác, nhưng người không được học chính quy gặp khó khăn hơn nhiều, cho nên dễ nhầm lẫn hơn. Người đó cần hiểu hết những sự thiệt thòi mà mình phải chịu, và cố gắng lấp kín những kẽ hở có thể rất nhiều do không có người hướng dẫn.

Mặt khác, người được đào tạo chính quy cũng không thể không tự học, nghĩa là giữ vai trò chủ động trong việc tiếp thụ tri thức và bổ sung, chỉnh lí những tri thức đã được học từ những người thầy, trong đó không phải chỉ có những người thầy chính thức trực tiếp dạy mình, mà còn cả những người bạn và những người học trò của mình nữa.

Cao Xuân Hạo, Kiến thức ngày nay, số 396, năm 2001

Advertisements

Tagged as:

12 phản hồi »


  1. Con vật này có thày dạy và nó muốn học. Nó đã có được một kỹ năng hữu ích cho cuộc mưu sinh.

    Like

  2. Tháng 9/2009, cuốn Alain Robbe-Grillet: Sự thật và diễn giải đã gây chú ý với giới phê bình, nghiên cứu và nhiều nhà văn Việt Nam. Nó chính là một luận án tiến sĩ được đại học Paris 7 xếp vào hạng “tối ưu” (très honorable avec félicitations).
    Tác giả cuốn sách để lại dấu ấn khá đậm nét trên diễn đàn văn chương những tháng vừa qua lại là một cô gái nhỏ nhắn, có nụ cười duyên dáng. Chị là Nguyễn Thị Từ Huy, giảng viên khoa văn đại học Sư phạm Hà Nội. trích từ trang http://khoavanhoc-ngonngu.edu.vn/home/
    Một bài viết của tiến sĩ giúp người ta hiểu đúng về hai chữ Giáo Dục.
    http://www.diendan.org/viet-nam/mot-nen-giao-duc-bat-kha.

    Like

    • Bạn Kim Quy tự nhiên lại giương hết cả cờ quạt của Từ Huy lên làm mọi người khớp quá ! Tôi đọc bài của Từ Huy rồi, tôi khá đồng ý với cái kết luận. Nhưng nếu coi đó là con đường duy nhất của giáo dục thì chẳng lẽ đấy là cái lẫy nỏ của thần Kim Quy chăng ? Chỉ có một con đường đi tới giáo dục, cũng như chỉ có một con đường đi lên chủ nghĩa xã hội chăng ?

      Like

  3. Để thật giản dị, nên có thể hình dung kho kiến thức nhân loại là một siêu thị mênh mông . Tự học như người đi siêu thị, nhưng phải tự dò tìm nên có thể mất thời gian. Trong quá trình đi tìm thứ nghĩ là cần, có thể người ta lại bị cuốn vào thứ khác (cần hơn hoặc chưa cần ngay),hàng hoá thu được hoàn toàn do người ta tự thu thập. Mua hàng được hướng dẫn như người được nhân viên siêu thị tư vấn để bạn đến chỗ cần đến, mua những thứ cần mua, đỡ tốn thời gian. Nhưng việc vào trong siêu thị để được ngắm nghía những món hàng mới lạ cũng mất đi phần hứng thú. Vì vậy nên kết hợp học có hướng dẫn (thầy dạy) và tự học là ưu việt nhất. Vào khu “Chợ Trời” cũng hơi có gì đó như đi siêu thị nhưng trong đó còn có cả hàng thật, hàng giả, hàng nhái (giống thật nhưng không phải thật) linh kiện tháo rời và rác rưởi. Ở trong đó bạn phải rất tỉnh táo với tiền bạc, thời gian, tuổi trẻ và cả trọng tải xe hàng của mình. Vào đây bạn cũng có vẻ mua hàng tùy ý nhưng còn được người trong chợ (tuỳ thuộc đạo đức và nhiệm vụ của họ) chỉ đông, chỉ tây và chất hàng lên xe của bạn (theo quy định của chợ).Việc lọc lựa hàng hoá là công việc không phải ai cũng có thể làm được trong cái chợ này với một xe hàng chất ngất. Vào “Chợ Trời” tự mua hay tự tìm hàng là cách của mỗi người. Nhưng chắc chắn “Chợ Trời” và siêu thị có cái giống nhau nhưng, không thể áp dụng cách đi chợ như nhau.

    Like

    • ‘Vào “Chợ Trời” tự mua hay … tìm hàng là cách của mỗi người” xin đọc… là được hướng dẫn. Xin lỗi bạn đọc và ban quản trị.

      Like

  4. Nói về việc tự học(autodidactic) thì em hiểu theo nghĩa nôm na là tự học chứ không theo trường lớp chính quy. Sự thành công của việc tự học phụ thuộc vào nỗ lực cá nhân, gien thông minh 😉 và cả môi trường gia đình. Trường hợp các thần đồng nhỏ tuổi ở VN như trường hợp em Đỗ Nhật Nam ban đầu được đưa tin rất nhiều, được nhiều người hâm mộ, nhưng sau lại bị kích bác và xúc phạm ghê gớm, chứng tỏ phần đông người dân ta chưa ý thức hết được năng lực tự học của bản thân và chưa biết đánh giá tài năng tự học của người khác.

    Bác namviet nói từ lâu là việc tự học quan trọng nhất trong giáo dục, nếu biết mình muốn học gì và chủ động đi tìm thầy tìm sách tìm thông tin để học là tốt nhất. Em nghiệm thấy đúng ạ. Khi còn nhỏ, nếu bố mẹ phát hiện được con cái có thiên hướng hay tài năng thì nên giúp con học thế nào phù hợp với con nhất. Việc em Nhật Nam thông minh xuất chúng, không thích đọc truyện tranh mà thích đọc sách hàn lâm vì bộ não của em đòi hòi nhu cầu thông tin phức tạp hơn các bạn bình thường cùng lứa tuổi, là việc dễ hiểu. Vậy mà nhiều người chỉ đợi vậy để nói em và gia đình em thậm tệ. Ở các nước như Ấn Độ và Pakistan, các thần đồng IT được coi như siêu sao, vì mới có 8 tuổi đã là Microsoft-IT-Specialist, ở các nước khác như Bắc Mỹ, Úc, Tây Âu vv…thì thần đồng 11 tuổi đã học đại học, đầu 20 đã nhậm chức giáo sư của các trường ĐH nổi tiếng. Có trường hợp thần đồng cũng thuộc bảng cửu chương lúc 4 tuổi như rất nhiều các em nhỏ ở VN khác, nhưng có lẽ các trường hợp đó được xã hội và môi trường họ đánh giá đúng và khuyến khích đúng, chứ không phải bị công kích là “dậy thì sớm” hay “bị đánh cắp tuổi thơ”, nên họ thành nhân tài.

    Người dân Việt ta nên nhìn nhận vấn đề tự học quan trọng, nên tìm hiểu cách học nào học phù hợp với khả năng và nguyện vọng của mình. Nếu như các em có IQ từ 130 trở lên được thế giới coi là thông minh xuất chúng, thì phải có trường riêng, có cách dạy riêng, có chương trình học riêng. Các em thông mình xuất chúng đều có bộ não đặc biệt vì theo các nghiên cứu KH, mỗi một vùng của bộ não đều có chức năng riêng, trong khi ở các em đó có vùng về logic hoạt động lưu thông máu mạnh hơn người thường, nên tiếp thu thông tin và tư duy nhanh hơn, giỏi hơn người thường. Các em nhỏ thần đồng thường nói chuyện và tư duy phức tạp, nên nghe có vẻ rất già dặn, chứ đâu phải các em là con vẹt của bố mẹ đâu ạ. Gia đình em Nhật Nam chịu áp lực quá nhiều, chỉ vì nhiều người không hiểu hết điều này. Ở bên Đức có trường hợp em trai mới 11 tháng đã bò ra máy tính của bố đánh đúng từ “cuộc họp hội đồng tài chính”, 11 tuổi thì được các hãng mời đến làm cố vấn phân tích về tình hình tài chính quốc tế. Bố mẹ em cũng muốn em có các trò giải trí như các em khác, nhưng học đi xe đạp 3 lần thì xong lại quên không thể giữ thăng bằng được. Đó là một sự bất thường về cấu tạo não, nên lỗi chẳng phải tại em hay bố mẹ. Trời cho sự thông minh xuất chúng về tính toán hay phân tích, thì nên phát huy vì em chỉ thấy sự đam mê trong nghiên cứu và tìm tòi thông tin. Bắt em ra chơi với các bạn cùng lứa mà khác sở thích thì cũng là hành hạ.Ở các trường dành cho trẻ được coi là thần đồng, các em đều bớt bị stress hơn học ở trường thường, bớt bị cô lập hay bị trêu chọc bởi các học sinh bình thường. Mong sao mọi người tôn trọng các em thần đồng và gia đình các em, hiểu được là các em đó không thể ngồi đọc truyện tranh như các con mình, không phải vì bố mẹ các em đó bắt thế, mà vì các em đó có cấu trục bộ não phức tạp hơn, đòi hỏi cách học va giai tri cũng phức tạp hơn. Ngược lại, nếu con minh chưa phải thông minh xuất chúng, thì cũng đừng nên nhồi nhét kiến thức để mong được thần đồng như em Nhật Nam ạ. Em sợ nhất là cái sự cực đoan của dân ta, hihihi, một là rất thích rồi bắt chước cho bằng được kể cả cái không hay, hai là rất ghét rồi bỏ lỡ cả cái hay đáng học 😉

    Like

  5. Tôi nghĩ, điều quan trọng hơn cả đối với mỗi cá nhân là học cái gì; học ở đâu, khi nào và học để làm gì?. Trong đó học để làm gì là mục đích và đóng vai trò động lực của việc học.

    Có lẽ Cố GS CX Hạo hơi nhấn mạnh đến vai trò của việc học chính quy, bài bản, có thầy tốt, trường tốt, điều này hoàn toàn đúng đối với số đông con người ta. Song việc tự học cũng rất quan trọng. Một xã hội học tập là ở đó người ta sẽ học suốt đời, đề cao việc tự học, tự tìm tự tìm tòi sáng tạo, học chính sự kì diệu của thiên nhiên.

    Một tấm gương “tự học” hiển nhiên nhất chính là Vũ trụ mà chúng ta đang sống, Vũ trụ tự sinh, tự phát triển, tự điều chỉnh để hoàn thiện, để tối ưu và bền vững, ổn định hàng tỉ năm qua (Chính vì điều này mà tôi cho rằng Vũ trụ có trí tuệ hoặc chí ít là “sản phẩm” của một Trí tuệ vĩ đại – Trí tuệ Vũ trụ!).

    Cái sự tự học (bắt chước) cũng được Lão Tử nói đến trong Chương 25: Tượng nguyên (Đạo Đức Kinh):
    “1. Có một vật hỗn độn mà nên, sinh trước trời đất; yên lặng, trống không; đứng một mình mà chẳng thay; đi khắp nơi mà không mỏi. Có thể làm mẹ thiên hạ.
    2. Ta không biết tên, đặt tên chữ đó là Đạo. Gượng gọi tên đó là Lớn. Lớn là đi, đi là xa; xa là trở lại.
    3. Cho nên Đạo lớn, Trời lớn, Đất lớn. Người cũng lớn. Trong đời có bốn thứ lớn, mà Người là một. Người bắt chước Đất, Đất bắt chước Trời; Trời bắt chước Đạo; Đạo bắt chước tự nhiên”. (Nhân pháp Địa, Địa pháp Thiên, Thiên pháp Đạo, Đạo pháp Tự nhiên).

    Như vậy, chẳng phải việc tự học của người ta là quan trọng lắm sao?.

    Like

  6. Đọc bài này thật kỹ, xong rồi thì không hiểu tác giả CXH ủng hộ hay chê bai tự học, xem ra nó chỉ là một thứ phiếm luận mà không có một cái kết luận nào có sức nặng! Cứ đọc kỹ hai đoạn về ông Hardicourt là thấy rõ sự mâu thuẫn trong cách dẫn chuyện và đưa nhân chứng.

    Vậy học chính quy, theo trường lớp thì cái căn bản là gì? Tôi nghĩ không đơn giản là có ông Thầy đứng trên bục giảng mà cắt nghĩa hay mở rộng các khái niệm trong sách. Cái chính là ở một trường ĐH chính quy người ta xây dựng một chương trình đào tạo có bài bản. Các môn học tạo nền móng căn bản và bổ sung lẫn cho nhau. Cho nên một anh đi học chính quy, có thể tư duy không xuất sắc nhưng cái anh được trang bị là có nền tảng vững chắc nên khi làm nghề dễ có hiệu quả. Nếu thêm khả năng tốt thì dễ có công trình, tác phẩm lớn. Còn nếu như một anh sinh viên học chính quy, nhưng thiếu năng lực tự nghiên cứu, tự đào sâu, tự bổ sung kiến thức thì dù có Thầy giỏi cũng sẽ chỉ là một anh hành nghề ở tầm nhàn nhạt mà thôi.

    Vậy thì tự học không phải là vấn đề để người ta dở (không làm nên chuyện gì). Nếu tự học mà bám sat một chương trình chính quy (đúng hơn là học cho đủ cái nền móng kiến thức căn bản cua một trường chính quy) thì không có gì mà thua kém anh đi học chính quy – được đào tạo- cả. Ông Hardicourt (tự học) với những thành tựu khoa học của ông là một minh chứng vậy.

    Cho nên là cũng đi hoc Đại học, nhưng học trường Đại học nào, tốt nghiệp trường nào thì giá trị cái bằng nó khác nhau là vậy. Còn chuyện tự học theo tôi là rất quan trọng, không có gì để chê bai cả. Cùng tốt nghiệp một trường lớp, nhưng thực giỏi hay chỉ tầm tầm thì cái quyết định nằm ở khả năng tự học, tự đào tạo.

    Vậy thì, theo tôi nghĩ, điều quan trọng khi tự học là hãy tìm hiểu và nắm bắt một chương chình chính quy, để việc tự học có được cái tri thức nền tảng của một chương trình chính quy. Như thế sẽ giúp cho việc tự học bớt đi những trở ngại không cần thiết do không theo một chương trình chính khóa. Vậy thôi.

    Và có lẽ, nên thay khái niệm tự học trong bài trên bằng khái niệm học chính khóa/chính quy hay tự đào tạo thì các lập luận sẽ trở nên rõ ràng, khúc chiết hơn.

    Tôi vốn dĩ rất thích đọc những bài báo của Tác giả CXH về ngôn ngữ và tiếng Việt (loại viết cho độc giả phổ thông) và nhờ thế cũng được khai sáng nhiều về các khái niệm ngôn ngữ học. Nhưng tôi thích sự rạch ròi, rõ ràng trong các khái niệm khi thảo luận.

    Like

    • Thật là ngại, nhưng xin phép chia sẻ vài lời với bạn. Mình phát hiện thấy một điều mà hồi mình đi học không có. Đọc một bài viết của một ai đó mình thường muốn biết thêm người viết là ai, họ viết những điều đó trong xã hội, bối cảnh lịch sử khi đó. Những điều này nhiều khi lại tìm thấy khá dễ trên bách khoa toàn thư mở Wikipedia. Họ viết bài đó khi đang ăn lương hay khi về hưu, viết bài đó với mục đích cho ai v.v Thật là mệt mỏi khi vạch vòi tìm hiểu như thế nhưng nó có cái thú vị riêng 🙂

      Like

    • Hihi, tôi hơi nể bác anhgia, khen bác có con mắt tinh đời. Đọc bài này, đọc vào câu đầu tiên, là tôi đã cười thầm trong bụng, nhưng mà bác Cao Xuân Hạo đã khuất núi rồi, cho nên tôi cũng phải nể nang bác ấy. Rồi bác ấy lại trích dẫn một nhà văn Pháp mà bác ấy không nhớ tên, nói rằng xưa nay không có người nào tự học cả (thấy chưa, chẳng ai nhớ cái ông nhà văn ấy là ai nữa !). Thế là tôi bèn nhớ ngay rằng người ta nói Jean-Jacques Rousseau vĩ đại là người tự học, ông ấy chẳng qua trường lớp nào cả ! Cho nên tôi bèn tự nhủ chắc là cái định nghĩa “tự học” của cố GS Cao Xuân Hạo nó khác cái định nghĩa của tôi. Dù sao thì mấy cái định nghĩa về “tự học” mà ông ấy đưa ra là cũng đã khác nhau. Theo nghĩa hẹp, thì ông ấy cho là không có ai lại “tự học” cả, ai ai cũng học được điều gì đấy từ người khác. Theo nghĩa của “số đông”, thì ông ấy nói hơi lằng nhằng, đại khái “tự học” là có nghĩa xấu, tiêu cực. Theo chính ông ấy, thì khi ông ấy ngồi trong thư viện, đọc bao nhiêu là sách, thì đấy là “tự học”, và một Phó Tiến sĩ của Nga thì bằng ba bốn Phó tiến sĩ Việt Nam tự học (hehe). Tự học theo kiểu ông Hadricourt, thì là ông ấy được đào tạo về Nông học nhưng lại chuyển sang nghiên cứu ngôn ngữ.

      Cho nên tôi đồng ý với bác anhgia là đọc xong rốt cuộc chẳng biết GS Cao Xuân Hạo muốn nói gì. Tôi thì nghĩ đơn giản là tự học là cái phần nỗ lực cá nhân, học được cái gì thì phải đem so sánh đối chiếu (confronter) nó với kiến thức của người khác, của nhân loại, vì học có thầy hay không thầy thì bao giờ cũng rất nhiều sai lầm. Thầy cũng sai, vĩ nhân có khi cũng còn sai ấy chứ, mà đỡ hơn một chút.

      Like

    • Mình thấy kết luận khá rõ ràng rồi đấy chứ:

      “Nói tóm lại, tự học là một cách học như mọi cách học khác, nhưng người không được học chính quy gặp khó khăn hơn nhiều, cho nên dễ nhầm lẫn hơn. Người đó cần hiểu hết những sự thiệt thòi mà mình phải chịu, và cố gắng lấp kín những kẽ hở có thể rất nhiều do không có người hướng dẫn.

      Mặt khác, người được đào tạo chính quy cũng không thể không tự học, nghĩa là giữ vai trò chủ động trong việc tiếp thụ tri thức và bổ sung, chỉnh lí những tri thức đã được học từ những người thầy, trong đó không phải chỉ có những người thầy chính thức trực tiếp dạy mình, mà còn cả những người bạn và những người học trò của mình nữa.”

      Không rõ bạn chờ kết luận có sức nặng kiểu như nào?

      Đọc bài này xong, mình nghĩ đơn giản là người người viết muốn trần thuật giản dị rằng tự học thì có những khó khăn như này, học có người dạy thì có lợi ích như kia. Tin rằng người viết không định khuyên người đọc nên chuyển qua học một-mình hay nên học có-thầy-dạy, vì cái này do hoàn cảnh riêng của mỗi người quyết định. Người viết chỉ muốn phân tích cho rõ mỗi con đường thì như nào, để từ đó mà đi tới cái đích theo cách phù hợp với bản thân một cách tốt nhất.

      Thêm một điểm nữa, mình cũng đồng ý là một chương trình học tốt giống như một cái là bàn đối với người tự học đang lạc đường giữa kiến thức mênh mông vậy. Nhưng chỉ có thế chắc là chưa đủ để giải quyết khó khăn. Theo mình khó khăn lớn nhất ở đây chính là việc phải học một mình, không có bạn có thầy để tạo động lực, để phản biện. Điều này người viết đã phân tích rất rõ ở trên rồi.

      Like

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Nhập địa chỉ email để nhận thông báo có bài mới từ Học Thế Nào.

%d bloggers like this: