How We Learn

Khuyến Học – Fukuzawa Yukichi (Trích đoạn)

KhuyenhocHọc Thế Nào: Chúng tôi xin trích một phần lời giới thiệu sách và trích đăng một số đoạn trong sách. Khuyến Học (Tác giả: Fukuzawa Yukichi, Dịch giả: Phạm Hữu Lợi, Xuất bản: Nhã Nam)

Lời giới thiệu: Khi mới được in lần đầu, cuốn sách này có một số lượng ấn bản kỷ lục là 3,4 triệu bản, trong khi dân số Nhật Bản thời đó chỉ khoảng ba mươi lăm triệu người. Chỉ riêng điều đó đã cho thấy đây thực sự là cuốn sách gối đầu giường của mọi người dân Nhật trong thời kỳ Duy tân. Kể từ đó đến nay, cuốn sách này đã được tái bản liên tục, chỉ tính từ năm 1942 đến năm 2000, riêng nhà xuất bản Iwanami Bunko cũng đã tái bản đến bảy mươi sáu lần.

Trong cuốn sách này, Fukuzawa Yukichi đề cập tinh thần cơ bản của con người và mục đích thực thụ của học vấn. Với các chương viết về sự bình đẳng, quyền con người, ý nghĩa của nền học vấn mới, trách nhiệm của nhân dân và chính phủ trong một quốc gia pháp trị…

Ông khẳng định mọi người sinh ra đều bình đẳng và nếu có khác biệt là do trình độ học vấn. Về học vấn, Fukuzawa Yukichi phê phán lối học “từ chương” và nhấn mạnh Nhật Bản phải xây dựng nền học vấn dựa trên “thực học”.

Về tác giả Fukuzawa Yukichi:

Nói tới Fukuzawa Yukichi, không người Nhật nào lại không biết. Họ nói về ông như một trong những bậc “khai quốc công thần” của nước Nhật Bản hiện đại, hình ảnh của ông được in trên đồng tiền có mệnh giá cao nhất ở Nhật, tờ mười nghìn yên.

Fukuzawa Yukichi là nhà tư tưởng có ảnh hưởng sâu rộng nhất đối với xã hội Nhật Bản thời cận đại. Người Nhật tôn vinh ông là “Voltaire của Nhật Bản”, không chỉ vì tính triệt để và tầm mức vượt trội trong tư tưởng của ông, mà còn vì cũng như danh nhân người Pháp, Fukuzawa Yukichi cùng những người đồng chí của mình là những người khai sáng tinh thần quốc dân Nhật Bản, đem lại linh hồn, động lực và sự hậu thuẫn tinh thần cho công cuộc Duy tân của chính phủ Minh Trị. Những tác phẩm của ông dù viết từ hơn một thế kỷ trước nhưng vẫn được người Nhật Bản ngày nay hết lòng ngưỡng mộ.

***

Phần Một
Trời Không Tạo Ra Người Đứng Trên Người

Mọi người sinh ra đều bình đẳng, nếu có khác biệt là do học vấn

Người ta thường nói: “Trời không tạo ra người đứng trên người và cũng không tạo ra người đứng dưới người”. Kể từ khi tạo hóa làm ra con người thì tất cả sinh ra đều bình đẳng, mọi người đều có tư cách, có địa vị như nhau, không phân biệt đẳng cấp trên dưới, giàu nghèo.

Loài người – chúa tể của muôn vật – bằng hoạt động trí óc và hoạt động chân tay mà biến mọi thứ có trên thế gian thành vật có ích cho bản thân mình. Nhờ thế mà thỏa mãn được nhu cầu ăn, mặc, ở, sống tự do theo ý muốn và không làm phiền, làm cản trở cuộc sống của đồng loại. Con người có thể sống yên ổn, vui vẻ trên thế gian. Đó là ý Trời, là niềm hy vọng của Trời đối với con người.

Vậy mà nhìn rộng ra khắp xã hội, cuộc sống con người luôn có những khoảng cách một trời một vực. Đó là khoảng cách giữa người thông minh và kẻ đần độn; giữa người giàu và người nghèo; giữa tầng lớp quý tộc và tầng lớp hạ đẳng.

Như thế là tại làm sao? Nguyên nhân thực ra rất rõ ràng.

Cuốn sách dạy tu thân Thực ngữ giáo có câu: “Kẻ vô học là người không có tri thức, kẻ vô tri thức là người ngu dốt”. Câu nói trên cũng có thể hiểu: sự khác nhau giữa người thông minh và kẻ đần độn là ở chỗ có học hay vô học mà thôi.

Trên thế gian có cả việc khó lẫn việc dễ. Người làm việc khó được coi là người quan trọng. Người làm việc dễ thường có địa vị thấp, bị coi thường. Công việc cần sự khổ nhọc về tinh thần được xem là việc khó, còn lao động chân tay là việc dễ. Vì thế, học giả, quan chức chính phủ, giám đốc các công ty lớn, chủ trang trại sử dụng nhiều nhân công… là những người có địa vị cao, quan trọng. Một khi đã là những người có địa vị, quan trọng thì đương nhiên gia đình họ cũng giàu sang sung túc đến mức tầng lớp hạ đẳng nằm mơ cũng không được. Tuy vậy, nếu suy nghĩ kỹ lưỡng gốc rễ của vấn đề thì chỉ có một nguyên nhân. Đó chẳng qua là do có chịu khó học hay không mà thôi, chứ có người nào được Trời phú cho đâu. Ngạn ngữ có câu: “Trời không ban cho con người phú quý. Chính con người tạo ra giàu sang phú quý”. Có nghĩa là Trời nhìn vào kết quả hoạt động, lao động của con người để ban thưởng.

Như tôi đã đề cập: ở con người vốn dĩ không có chênh lệch sang hèn, giàu nghèo. Vì thế, có thể nói rằng: người chịu khó học, hiểu biết nhiều sẽ trở thành người quan trọng, sống sung túc; người vô học sẽ trở thành con người thấp kém, nghèo khổ.

Học những môn thiết thực cho cuộc sống

Học vấn là gì? Đó không phải là học chỉ cốt để hiểu câu khó, chữ khó; càng không phải là việc học chỉ để giải nghĩa văn cổ, đọc thơ, vịnh thơ. Học như vậy không có ích gì cho cuộc sống cả.

Đọc các tác phẩm văn học cũng là để động viên an ủi lòng người, như thế chẳng phải là môn học có ích cho cuộc sống đó sao? Nhưng tôi không nghĩ rằng văn học là môn học quan trọng đến mức “phải thờ phụng nó” như các thầy dạy Hán văn, Cổ văn thường nhấn mạnh.

Trong cuộc sống, tôi hầu như không thấy thầy dạy Hán văn nào có được tài sản đáng kể, cũng như các thương gia vừa giỏi thơ phú vừa thành công trong kinh doanh lại càng hiếm.

Với lối học như hiện nay, chỉ tăng thêm sự lo lắng trong các bậc phụ huynh, nhà nông… những người hết lòng chăm lo việc học tập của con cái: “Chúng nó cứ học theo kiểu này, chắc có ngày tán gia bại sản mất”. Điều đó là đúng. Vì lối học này không thực tế, không thể áp dụng kết quả học tập vào thực tiễn cuộc sống.

Vậy thì giờ đây chúng ta phải học cái gì và học như thế nào?

Trước hết phải học những môn thực dụng cần thiết cho cuộc sống hằng ngày. Ví dụ: Phải thuộc lòng bảng bốn mươi bảy chữ cái Kana; Học cách soạn thảo thư từ, ghi chép trương mục kế toán; Sử dụng thành thạo bàn tính; Nhớ cách cân, đong, đo, đếm; Tiếp đến là phải học các môn như Địa lý để biết được phong thổ Nhật Bản và các nước trên địa cầu; Vật lý là môn học giúp ta phân biệt được tính chất của mọi vật thể trong thiên nhiên, qua đó tìm ra tác dụng của nó; Học Sử vì đây là môn học giúp ta hiểu biết cặn kẽ mọi sự kiện ghi trên niên biểu lịch sử, qua đó chúng ta có thể nghiên cứu quá khứ, hiện tại của mọi quốc gia; Học Kinh tế là môn giải đáp cho chúng ta mọi vấn đề liên quan đến việc chi tiêu trong mỗi gia đình cũng như nền tài chính của cả quốc gia; Học môn Đạo đức, môn này giúp ta hiểu về hành vi, hành động của bản thân, hiểu cách cư xử, cách giao tiếp, cách sinh hoạt giữa người với người.

Để học các môn này, cần thiết phải đọc tất cả các quyển sách của châu Âu đã được dịch ra tiếng Nhật. Đối với các bạn trẻ có khả năng thì tôi khuyên nên đọc trực tiếp các nguyên bản bằng tiếng Anh, Pháp, Đức. Khi học phải nắm được nội dung chủ yếu của môn học, trên cơ sở đó phải hiểu được bản chất cơ bản của mọi sự vật. Học như vậy mới có ích cho cuộc sống. Đó là “Thực học” mà ai cũng phải học, là học vấn mà hết thảy mọi người đều phải tự trang bị, không phân biệt đẳng cấp, khoảng cách giàu nghèo. Chính việc tự trang bị kiến thức này, từng cá nhân trên cơ sở làm trọn chức trách của mình, sẽ điều hành quản lý tốt gia nghiệp được giao…

Cá nhân có độc lập thì gia đình mới độc lập. Và như thế quốc gia cũng độc lập.

Tự do không phải là chỉ biết có tôi, cho riêng tôi

Biết đúng vị trí, chỗ đứng của mình là rất quan trọng. Kể từ khi sinh ra, con người không phải chịu sự can thiệp của bất cứ một ai. Nam cũng như nữ đều có quyền tự do sinh sống. Đúng là con người có quyền tự do, nhưng lúc nào cũng khăng khăng đòi phải được làm theo ý muốn của riêng mình mà không biết rõ vị trí của mình thì sẽ trở nên chỉ biết có mình, cho riêng mình. Như thế là tự mình làm hỏng mình.

Dựa trên đạo lý mà Trời đã định, vị trí của mỗi người là ở chỗ: biết trọng tình người, không làm phiền hay cản trở người khác, biết bảo vệ quyền tự do bản thân.

Tự do bản thân không có nghĩa là muốn làm gì thì làm, không có nghĩa là làm phiền hoặc cản trở người khác. Ví dụ như có người nói: “Tiền tôi, thích uống rượu tôi uống, thích mua ‘hoa’ tôi mua. Đó là quyền tự do của tôi, chứ động chạm gì tới ai”. Suy nghĩ như vậy là sai. Ham mê tửu sắc làm ảnh hưởng tới người khác, lại lôi kéo bạn bè, làm hại nền giáo dục xã hội. Cứ cho là tiền tôi tôi xài, nhưng không vì thế mà có thể bỏ qua những hành vi tội lỗi gây ra cho xã hội.

Tự do và độc lập không chỉ liên quan tới từng cá nhân mà còn là vấn đề của quốc gia nữa.

Nhật Bản chúng ta là một quốc đảo nhỏ nằm ở phía Đông châu Á, cách xa đại lục, lâu nay không giao thương với ngoại quốc, bế quan tỏa cảng, tự cung tự cấp. Mãi đến thời Gia Vĩnh (1848-1854), khi hạm đội Mỹ kéo đến gây áp lực, Nhật Bản mới bắt đầu mở cửa giao thương với nước ngoài. Thế mà ngay cả khi đã mở cửa, trong nước vẫn chưa hết tranh cãi ồn ào xung quanh việc tiếp tục đóng cửa hay mở cửa, tiếp tục lên án người ngoại quốc là lũ man di mọi rợ… Những cuộc tranh cãi như vậy thật là vô bổ, có khác nào “Ếch ngồi đáy giếng coi Trời bằng vung”.

Thử nghĩ xem, chẳng phải là người Nhật chúng ta cũng như người dân các nước phương Tây cùng ở trên một quả đất, hưởng chung ánh mặt trời, ánh trăng, thở cùng một không khí, hưởng cùng một đại dương và đều là con người cả đó sao. Chúng ta thừa sản vật thì chia bớt cho người ta; người ta thừa sản vật thì chia lại cho mình, cùng học hỏi lẫn nhau, không ai tự cao tự đại, không làm nhau hổ thẹn. Dân Nhật ta cũng như dân họ đều cùng mong phát triển, cùng mong hạnh phúc đó sao?

Chúng ta phải tận tâm làm hết sức mình trong quan hệ quốc tế sao cho đúng ý Trời, hợp lòng người. Nếu đúng đạo lý thì cần phải chuộc lỗi với người Phi châu cũng phải làm. Còn để bảo vệ lập trường chính nghĩa thì dù là pháo hạm Anh hay Mỹ, chúng ta cũng không sợ. Khi quốc gia chịu nỗi nhục mất nước thì mọi người dân Nhật, không trừ một ai, đều sẵn sàng xả thân để bảo vệ thanh danh của Tổ quốc. Như vậy, đất nước mới tự do, quốc gia mới độc lập.

Thế nhưng trên thế gian này, vẫn có quốc gia tự phong cho mình là trung tâm của vũ trụ. Họ nghĩ là ngoài đất nước họ ra không có quốc gia nào tồn tại cả. Hễ cứ nhìn thấy người ngoại quốc thì miệt thị như loài thú hoang, gọi họ là man di mọi rợ. Kết cục là quốc gia đó tự chuốc lấy sự căm ghét của các nước khác. Đó là một kiểu “chỉ biết cái tôi” ở tầm quốc gia, đó là cách ngoại giao không biết mình biết người, không nắm rõ ý nghĩa của từ “Tự do”.

Học để dám nói lên chính kiến và thực hiện đầy đủ bổn phận với đất nước

Kể từ khi thiết lập chế độ quân chủ, nền chính trị Nhật Bản đã có những thay đổi mạnh mẽ. Về đối ngoại, chính phủ đã bang giao với ngoại quốc trên cơ sở công pháp quốc tế. Về đối nội, chính phủ đã mang lại tinh thần “tự do, độc lập” cho dân chúng. Người dân chúng ta đã được phép mang đầy đủ họ và tên; được phép cưỡi ngựa… Đó là sự thay đổi to lớn kể từ thuở lập quốc, tạo cơ sở bình đẳng về địa vị giữa các thành phần Võ sĩ (samurai), Nông, Công, Thương trong xã hội.

Chế độ đẳng cấp – địa vị của một người được quy định trước cả khi người đó ra đời – đã hoàn toàn bị xóa bỏ.

Từ nay trở đi địa vị xã hội của cá nhân sẽ được quyết định tùy theo tài năng, phẩm cách và vai trò của mỗi người. Quan chức chính quyền được bổ nhiệm theo tài năng và nhân cách và là người thực thi luật pháp cho chúng ta. Chúng ta kính trọng họ theo lẽ đó, chứ không phải chúng ta kính trọng chức vụ và thành phần xuất thân của họ. Chúng ta không phải tuân theo con người họ. Chúng ta chỉ tuân thủ Luật pháp (Quốc pháp) mà họ đang thừa hành.

Dưới thời chính quyền phong kiến Mạc phủ, người dân chúng ta luôn phải khiếp sợ, né tránh, cúi rạp mình trước các Tướng quân. Ngay cả lũ ngựa của các Tướng quân cũng làm chúng ta hoảng sợ không dám đi chung đường với chúng; bầy chim cắt dùng nhử mồi khi các Tướng quân đi săn bắn, cũng làm chúng ta khiếp đảm, phải cúi lạy, phải phủ phục cho đến khi lũ chim bay khuất mới dám ngẩng đầu đứng lên đi tiếp. Người ta đã buộc chúng ta phải quen, phải sợ những thứ được coi là “luật lệ”, “tập quán” hà khắc ấy. Giờ đây nghĩ lại ai ai cũng cảm thấy kinh tởm.

Những thứ “luật lệ”, “tập quán” đặt ra một cách vô cớ đó, không phải là luật pháp hay quốc pháp để chúng ta phải tuân thủ. Chúng là những thứ đã cướp đoạt mọi quyền tự do của chúng ta. Chúng là những thứ được đặt ra để gieo rắc nỗi sợ hãi trong chúng ta trước uy quyền của chế độ phong kiến Mạc phủ và nhằm để che đậy bản chất lộng hành, không minh bạch của chính chế độ đó.

Giờ đây, toàn bộ cái chế độ và luật lệ ngu xuẩn ấy đã bị xóa sổ. Vì thế, không lẽ gì chúng ta cứ phải sợ bóng sợ vía các cấp chính quyền đó mãi.

Nếu có gì bất mãn với chính quyền hiện tại, chúng ta phải kháng nghị, tranh luận một cách đường đường chính chính. Tại sao chúng ta chỉ dám nói xấu, kêu ca sau lưng họ mà không dám chỉ mặt vạch tên.

Những kháng nghị hợp lòng dân, đúng đạo Trời, dù có phải đổi cả tính mạng chúng ta cũng phải tranh đấu. Đây là bổn phận mà mỗi người dân chúng ta phải thực hiện đối với đất nước.

Học để hiểu “trách nhiệm” của bản thân

Như tôi đã nói ở trên, “độc lập và tự do” dựa trên đạo lý của Trời đã trở thành nguyên tắc trong mỗi người cũng như của cả quốc gia chúng ta. Nếu như có kẻ gây phương hại đến nguyên tắc này thì dù có phải biến cả thế giới thành kẻ thù, chúng ta cũng không sợ, huống hồ chúng ta lại phải sợ một số quan chức chính phủ lộng quyền?

Giờ đây, chúng ta đã xác lập được tinh thần cơ bản: mọi người dân đều bình đẳng, vì thế chúng ta hãy yên tâm phát huy hết mọi khả năng sức lực và trí tuệ của mình.

Mỗi người đều có mỗi bổn phận, do đó phải tự vun đắp tài năng, rèn luyện nhân cách sao cho xứng đáng với bổn phận đó. Để làm được điều này, ai ai cũng phải học chữ, học ngôn ngữ. Có chữ, biết ngôn ngữ sẽ lý giải được mọi đạo lý của sự vật.

Nói đến đây chắc các bạn sẽ hiểu giúp tôi rằng: học vấn là vấn đề cấp bách biết nhường nào.

Hiện nay, tầng lớp thường dân cũng đã sánh vai ngang hàng với tầng lớp Võ sĩ (samurai), cho nên con đường được lựa chọn vào các chức vụ trong chính quyền cũng mở ra cho chúng ta nếu chúng ta có tài.

Chúng ta phải tự giác trước bổn phận của bản thân, không chạy theo những hành động rồ dại, phải cẩn trọng.

Tôi chắc rằng không ai đáng thương hại hơn là những người vô tri thức, những người không hiểu lẽ phải, và cũng không ai khó giao tiếp hơn những người ấy. Vì không có tri thức, không có năng lực tự thức tỉnh nên họ căm ghét oán giận những người giàu có chính đáng, đôi khi họ tập hợp thành bầu đoàn đi đánh cướp.

Bản thân họ được luật pháp bảo vệ, nhưng hễ cứ cảm thấy bất lợi cho mình thì họ lại thản nhiên vi phạm, ngang nhiên phá luật.

Lại có không ít người, có được chút ít tài sản, tiền bạc thì chỉ lo tích trữ, cất giấu, không bao giờ suy nghĩ đầu tư cho con cháu học hành. Vì thế con cháu họ chỉ biết ăn chơi, lêu lổng, dốt nát và cứ thế tiêu pha tàn phá tài sản của ông cha mình.

Đối với những người như vậy, không thể mang đạo lý ra để giảng giải mà chỉ có cách là dùng uy lực đe dọa chứ không có cách nào khác. Ám chỉ điều này, người phương Tây có câu tục ngữ: “Dân ngu tự chuốc lấy chính sách bạo tàn”. Người dân tử tế nghiêm túc thì chính phủ cũng buộc phải tử tế nghiêm túc.

Nước Nhật chúng ta có dân, trên dân có chính phủ. Phẩm cách của dân rơi vào vòng ngu tối, vô học thì luật pháp của chính phủ cũng trở nên hà khắc. Nhưng nếu quốc dân có chí học hành, tiếp thu văn minh thì không có cách nào khác, chính phủ cũng sẽ phải quảng đại, nhân đạo.

Luật nước hà khắc hay quảng đại hoàn toàn tùy thuộc vào thái độ, phẩm cách của quốc dân.

Có người dân nào lại mong muốn một chế độ chính trị tàn bạo?

Có người dân nào lại mong cho đất nước kém phát triển?

Có người dân nào lại mong cho nước mình bị ngoại bang khinh miệt?

Không và không thể có. Đó là tình con người trong mỗi chúng ta.

Nếu như ai ai cũng một lòng một dạ báo đáp cho Tổ quốc, nơi mình sinh thành thì chúng ta không bao giờ phải lo nghĩ hay bất an đến tương lai, đến tiền đồ của Nhật Bản. Mục đích của chúng ta chỉ có một: giữ gìn hòa bình cho đất nước.

Do vậy, điều quan trọng hơn bất kỳ điều gì khác là mỗi người chúng ta ai ai cũng phải học hành, mở mang tri thức, mài giũa tài năng, nhân cách sao cho xứng với bổn phận của mình.
Ngược lại, chính phủ phải có trách nhiệm soạn thảo và thông báo đến mọi người dân những chính sách dễ hiểu. Mục tiêu duy nhất của chính phủ là phải mang lại cuộc sống ấm no, yên ổn cho dân.

Những lời về học vấn mà tôi khuyên nhủ các bạn cũng chỉ nhằm tới điều này.

Nhân dịp khai trường “Keio Nghĩa thục” tại quê tôi, huyện Nakatsu, tỉnh Oita, tôi chấp bút viết chương này đưa cho bạn bè, đồng hương xem. Nhiều bạn hữu, sau khi đọc xong, nói với tôi rằng: bài viết này không chỉ cho bạn bè, đồng hương tham khảo mà nên gửi tới bạn đọc gần xa nữa, như vậy sẽ có hiệu quả hơn, nên tôi đã cho in thành nhiều bản để các bạn cùng đọc.

Tháng Hai năm Minh Trị thứ năm (tức năm 1871)

Advertisements

Tagged as: ,

Categorised in: Góc đọc sách, Triết lý

17 phản hồi »

  1. Thêm một số thông tin về “Tư Tưởng Thoát Á” của ông:

    Fukuzawa Yukichi (tiếng Nhật: 福澤 諭吉; 1835-1901, âm Hán Việt: Phúc Trạch Dụ Cát)

    …Có dịp được tiếp xúc với văn minh phương Tây qua sách vở và những chuyến viếng thăm Mỹ và châu Âu vào cuối thế kỷ 19, Fukuzawa nhận định rằng văn minh phương Tây phát triển hơn châu Á về nhiều mặt, và các nước châu Á khó lòng duy trì được nền độc lập nếu cứ đóng cửa trước văn minh phương Tây. Theo ông, giành được quyền tự trị chưa phải đã là độc lập, mà nền độc lập thật sự chỉ có thể thành hiện thực thông qua việc trở thành một quốc gia tiên tiến và văn minh. Nếu không có sự khai sáng và văn minh, nền độc lập giành được sẽ mau chóng mất đi để rồi lại lệ thuộc vào các quốc gia tiên tiến khác .
    Nhận thức được các nước trong khu vực châu Á mới chỉ ở mức “bán văn minh”, không thể là tấm gương cho Nhật Bản học hỏi, trong bài “Thoát Á luận”, Fukuzawa kêu gọi nước Nhật hãy “tách ra khỏi hàng ngũ các nước châu Á, đuổi kịp và đứng vào hàng ngũ các nước văn minh phương Tây”. Ông chủ trương mở cửa giao thương với phương Tây, học hỏi kiến thức và kinh nghiệm quản lý xã hội của phương Tây để phát triển Nhật Bản. Quan điểm này của Fukuzawa đã được chứng minh bằng thực tế: Ở châu Á, chỉ có Nhật Bản và Thái Lan, hai nước chủ trương mở cửa, là tránh được sự xâm lược và thôn tính của các nước phương Tây. Chính sự du nhập của những giá trị dân chủ và nền giáo dục khoa học kiểu phương Tây đã khiến Nhật Bản không bị phương Tây xâm lược, mà ngược lại, trở thành cường quốc từ cuối thế kỷ 19 .
    Fukuzawa tin rằng giáo dục là cách duy nhất để đạt tới văn minh, bởi bản chất của văn minh là sự phát triển kiến thức và đạo đức nội tại của dân tộc:
    “Văn minh có nghĩa là đạt được cả những tiện nghi vật chất lẫn sự nâng cao tinh thần của con người. Nhưng cái tạo ra những tiện nghi vật chất và nâng cao tinh thần của con người là kiến thức và đạo đức, [do đó] bản chất của văn minh chính là quá trình phát triển kiến thức và đạo đức con người.”
    Fukuzawa cho rằng nền giáo dục Nho học truyền thống ở Nhật Bản chính là sự cản trở lớn nhất của nền văn minh: Nó vừa cổ hủ vừa chậm phát triển, hàng nghìn năm vẫn không thay đổi, chỉ coi trọng hình thức bên ngoài giả tạo mà coi thường chân lý và nguyên tắc. Số lượng người đi học đã ít ỏi, lại chỉ được dạy đọc/viết mà không được khuyến khích phát triển tư duy sáng tạo và độc lập. Chính vì vậy, Fukuzawa kêu gọi người dân hãy theo đuổi nền giáo dục thực học của phương Tây, dựa trên nền tảng khoa học và kỹ thuật. Mỗi người trong xã hội, từ các học giả uyên bác, những viên chức nhà nước địa vị cao đến những nông dân nghèo và những người buôn bán nhỏ đều có thể đi học để thực hiện tốt hơn chức năng riêng của mình, từ đó đóng góp sức mình vào phát triển xã hội, chứ không nhất thiết phải học để ra làm quan theo lối suy nghĩ truyền thống của Nho học hủ lậu. Fukuzawa phê phán lối học ấy trong xã hội Nhật đương thời:
    “Trong xã hội Nhật Bản, mười người thì cả mười, trăm người thì cả trăm, tất cả đều mưu cầu việc tiến thân, thăng quan tiến chức và trở thành công chức”.
    Fukuzawa là người đưa ra nguyên tắc nổi tiếng: “Độc lập quốc gia thông qua độc lập cá nhân”, tức là một xã hội muốn phát triển phải dựa trên những cá nhân có khả năng tư duy độc lập và sáng tạo, chứ không phải dựa vào chính phủ. Ông kêu gọi các sĩ phu Nhật Bản làm việc theo phương châm “coi trọng quốc gia và coi nhẹ chính phủ”, tự tin vào sức mạnh cá nhân mà không phụ thuộc vào sức mạnh của người khác (đây chính là tư tưởng Khai Sáng của Immanuel Kant).
    Để phổ biến kiến thức văn minh và tư tưởng tiến bộ phương Tây tới dân chúng, Fukuzawa đã viết trên 100 cuốn sách giải thích và biện minh cho thể chế chính quyền nghị viện, giáo dục phổ thông, cải cách ngôn ngữ và quyền của phụ nữ. Ông còn mở trường Đại học Keio (Trường Khánh Ứng Nghĩ Thục), nay trở thành một trong những trường đại học hàng đầu của Nhật Bản, để đào tạo những thế hệ thanh niên Nhật Bản theo phương thức mới. Cùng với một nhóm trí thức cùng tư tưởng, Fukuzawa cho ra mắt tờ báo Jiji Shimpo năm 1882, đây là một cơ quan tuyên truyền có tác động rất lớn đến công chúng Nhật Bản. Ông không coi mình là người làm chính trị, mà chỉ là “bác sĩ bắt mạch chính trị”. Ông không tham gia chính quyền, dù được mời nhiều lần, nhờ đó có cơ hội phê phán chính quyền một cách mạnh mẽ và kiên quyết hơn.

    http://vi.wikipedia.org/wiki/Fukuzawa_Yukichi

    Số lượt thích

  2. Cảm ơn ngài TH! Đề nghị HTN và mọi người có thêm thông tin về mối tương quan Fukuzawa Yukichi với xã hội và nhà cầm quyền đương thời.Tai sao tư tưởng mới, đường lối cách tân, ý thức ” thoát Á” thực chất là “thoát Tàu” trong một hoàn cảnh đạo Khổng và Nho giáo tưởng như là “vòng kim cô” thống soái cực mạnh cả khu vực châu Á, đặc biệt là Việt Nam, TQ, Triều Tiên, Nhật Bản thời bấy giờ lại thành công. Việc “dám” có tư tưởng mới, coi giáo dục là lõi vật chất của phát triển,coi tự do độc lập cá nhân vượt lên cả quyền uy của “Mạc phủ” và chỉ bằng những cách thức và điều kiện “thô sơ” thời đó mà nhanh chóng chuyển biến những tư duy bất hủ thành ” hệ tư tưởng-ý thức” vượt tầm cho cả xã hội Nhật? Không thể gọi là ngẫu nhiên, may rủi vì cùng thời đó ở VN cũng có những “sỹ phu” muốn cải cách như ngài Nguyễn Trường Tộ nhưng đã không thành công. Nếu như đã không phê phán tầm nhìn hạn hẹp thậm chí ” phản động” của triều đình thời đó thì cũng phải rút ra bài học gì cho giới lãnh đạo đất nước hiện nay. Riêng tôi,HẠN CHẾ TỰ DO TƯ TƯỞNG= BẢO THỦ = PHẢN ĐỘNG = HẠI NƯỚC THÊM 100 NĂM nếu chỉ hô hào ” đổi mới giáo dục ” mà không thực tâm đổi mới chính trị,chịu hy sinh, bừng tỉnh táo từ giới cầm quyền.

    Số lượt thích

    • Bác Tín Văn tưởng Thanh Hải là một ông có râu ! Tư tưởng của ông Fukuzawa này hợp với tôi quá ! Tuy nhiên cũng phải nghiên cứu kết quả của nó về lâu về dài. Nước Nhật đã phát triển mạnh mẽ thật, nhưng mà “hoạnh phát hoạnh phá”, phát quá sau này thành phát xít Nhật, Đức phát quá cũng thành phát xít Đức. Cho nên các bác cứ từ từ thôi, đừng có thấy TQ phát quá mà ham, phải chờ xem một tí chứ. N. H. Thiệp cũng nói điều gì rất hay, đại khái như là tình yêu thì cần phải có thời gian (hehe, hy vọng tôi không râu ông nọ cắm cằm bà kia, tôi sẽ xem lại). Mà tôi để ý thấy ông Fukuzawa cũng nói đến nữ quyền, thế mà dường như đến năm 1945 phụ nữ Nhật còn bị ngược đãi lắm, nên mới được đưa vào Hiến Pháp. Các bác đọc “Núi thần” của Thomas Mann chưa? Truyện viết ác chiến thật, nhưng trong đó hầu như chẳng nói được điều gì tốt đẹp về phụ nữ, toàn so sánh họ với thú vật, mèo ngỗng gì ấy. Chắc vì thế mà các bác Đức mới phát khùng lên hồi chiến tranh thế giới thứ nhất.

      Số lượt thích

      • Dường như, ta đang nói về sự tương đối. Nhiều người Việt ghét Tàu, nhưng trong thâm tâm lại thích đồ Tàu. Ở Mỹ, có lẽ đến năm 1920s gì đó, phụ nữ mới được đi bầu. Cũng vậy, ngày xưa, ai cũng mê lấy vợ Nhật.

        Tình thế nay đổi khác! Dẫn đầu có lẽ là Mỹ, đàn ông còn thua cả loài chó một bậc. Rồi sẽ tới Nhật, Tàu, Việt Nam, … Phong trào “tâng bốc” phụ nữ đang lên cao trên thế giới. Yên chí. Ở đây, các trường học đều do đa số các cô đứng lớp. Hôm trước, tôi vào thay cho một giáo viên tên là Nguyen, Thanh “Hai”. Đó không phải là thày Thanh, mà là cô Hải. Xin lỗi, vì trên diễn đàn có TH, nên tôi để ý vậy thôi… Hôm nay, tôi dạy thay cho thầy Peter Kelly ở trường intermediate, McGarvin. (trường này lấy tên của bà Sara McGarvin)

        Số lượt thích

      • Bình đẳng, bình đẳng, bác phan như huyên ạ ! Đàn ông tâng bốc ta thì ta cũng tâng bốc lại họ, nhưng mà số vị trí thì phải chia đều, hoặc phụ nữ ít hơn một chút cũng được, chứ cũng không dám ăn hơn của ai cái gì. Sao mà bác yên chí được chứ về chuyện đó thì tôi nóng ruột. Bác không xem tình hình bạo lực gia đình ở Việt Nam à? Mà tôi nghĩ ở những nước Hồi giáo họ nhiều khủng bố như thế là vì họ đối xử với phụ nữ rất tồi đấy. Còn bên Ấn Độ thì sao? TQ phát điên lên cũng vì họ nhiều đàn ông quá, Việt Nam cũng đang sợ kia kìa ! Sao mà bác lại bình chân như vại như thế chứ !

        Nhưng tôi nghĩ phụ nữ, cũng như đàn ông, có những sở trường, sở đoản của họ. Bộ Y tế chẳng hạn, tôi nghĩ bà Tiến không kham nổi, vì nó đem lại rất nhiều tiền nếu y đức kém, nên sẽ nhiều tệ nạn, Bộ ấy phải để cho một ông hung dữ nắm. Còn bà Tiến phải chuyển bà ấy sang làm giáo dục hay là nghiên cứu ấy. Để bệnh nhân chết như ngả rạ như thế thật là quá đáng ! Mà từ bao lâu nay rồi!Tôi mà là bà ấy thì tôi từ chức cho mau, cũng tiếc một bà phụ nữ lắm nhưng mà sức mình không kham nổi thì phải rút đi chứ ! Ở thêm ngày nào thì người ta chết thêm ngày ấy à? Thấy bà ấy nói là bà ấy sẽ lắng nghe ý kiến của các chuyên gia, nhưng lẽ ra là bà ấy phải làm điều đó từ lâu rồi, ngay từ đầu rồi, chứ đợi tới bây giờ thì chậm quá rồi. Hồi xưa cái vụ chân tay miệng bao nhiêu là trẻ con chết là tôi đã ghét bả quá trời. Tôi chỉ mong bà ấy từ chức ngay để chị em chúng tôi còn có thể tự hào về lòng dũng cảm của bà ấy.

        Số lượt thích

  3. Các bác có gọi phụ nữ là Ngài cũng không nguy hiểm bằng gọi đàn ông là Bà ạ 😉 Mà từ khi sang Tây thì họ chỉ gọi mình bằng Họ, chứ quen thân mới gọi bằng tên. Mà tên Hải (Hai) nhìn ra tiếng Đức là cá mập, nên cũng thú vị không kém!
    Còn chuyện vui nữa về nam nữ bình quyền như thế này: Khi em cứ phải giải thích với Tây rằng ở VN người vợ không lấy họ của chồng sau khi kết hôn, thì một bà Tây đã thốt lên một cách thán phục rằng “Tôi không ngờ rằng ở VN nước cô, phụ nữ lại được giải phóng thế cơ à (emancipated)!” 😀

    Bạn lan hương ơi, vì đề tài CN phát xít nằm ngoại nội dung của bài đăng, nên mình chỉ trích ngắn gọn như thế này “The ideological roots of fascism have been traced to the 1880s, and in particular the ‘fin de siècle’ theme of that time” ( http://en.wikipedia.org/wiki/Fascism ). Trong wikipedia bạn có thể đọc thấy bối cảnh lịch sử trong thời điểm thế chiến thứ nhất bùng nổ 1914 đã tạo nên phong trào phát xít, và sau Great Depression thì ngoài Ý và Đức ra thì một loạt các nước Châu Âu khác cũng có phong trào phát xít như ở Hungari, Rumani, Pháp, Hy Lạp, Ba Lan, Litva, Nam Tư…

    Quay lại tư tưởng của Fukuzawa Yukichi là thoát khỏi Á (Escape from Asia) nghĩa là kêu gọi nước Nhật hãy “tách ra khỏi hàng ngũ các nước châu Á, thoát ra khỏi sự “bán văn minh”, đuổi kịp các nước văn minh phương Tây”, mà chỉ có cách như vậy nước Nhật mới không bị lệ thuộc vào các nước phương Tây, tránh được âm mưu thôn tính và xâm lược của phương Tây!

    Còn dưới đây là nhận định mới nhất về việc ông không phải là người ủng hộ sự bành trướng và xâm lược của đế quốc Nhật. Ông chỉ phê phán chính sách của Trung Hoa và Triều Tiên, chứ không chống hay phân biệt đối xử người dân của hai nước láng giềng này!
    Fukuzawa was later criticized as a supporter of Japanese imperialism because of his essay “Datsu-A Ron” (“Escape from Asia”) published in 1885, as well as for his support of the First Sino-Japanese War (1894–1895). Yet, “Datsu-A Ron” was actually a response to a failed attempt by Koreans to organize an effective reform faction. The essay was published as a withdrawal of his support. Nevertheless the assistance provided to radical Koreans during this era was never intended to lead to complete independence for the peninsula, but on the contrary sought to bring Korea under ever greater Japanese influence. This was amply demonstrated by the power-plays undertaken in Korea by both Koreans supported by Fukuzawa and the Imperial Japanese Army during the First Sino-Japanese War.
    According to ‘Fukuzawa Yukichi no Shinjitsu’ (“The Truth of Fukuzawa Yukichi”, 2004, ISBN 4-16-660394-9) by Yō Hirayama, this view is a misunderstanding due to the influence of Mikiaki Ishikawa, who was the author of a biography of Fukuzawa (1932) and the editor of his Complete Works (1925–1926 and 1933–1934). According to Hirayama, Ishikawa inserted anonymous editorials into the Complete Works, and inserted historically inaccurate material into his biography. In fact, says Hirayama, Fukuzawa did criticize the Chinese and Korean governments but he did not discriminate against the Chinese and Korean people. Discriminatory statements attributed to Fukuzawa, he says, were actually due to Ishikawa.
    “ The material in Fukuzawa Yukichi Complete Works (1958-1964) volumes 1 to 7 must be distinguished from that in volumes 8 to 16. Volumes 1 to 7 contain signed works, but the Jiji Shinpō editorials in volumes 8 to 16 are almost all unsigned works chosen by Ishikawa. Six of the editorials in volume 16 were written six months after Fukuzawa’s death, and of course cannot have been written by Fukuzawa. ( http://en.wikipedia.org/wiki/Fukuzawa_Yukichi )

    Số lượt thích

    • Những điều ông nhắc nhở mà em thấy có ý nghĩa vô cùng cho mỗi một con người:
      – Học những môn thiết thực cho cuộc sống
      – Học để dám nói lên chính kiến và thực hiện đầy đủ bổn phận với đất nước
      – Học để hiểu “trách nhiệm” của bản thân

      Số lượt thích

  4. Khi nói về giáo dục, từ ngàn xưa, con cái cứ theo cha mẹ mà học. Các lớp, các ban ngành, thì mới có từ thời hiện đại đến nay. Như vậy, nếu tự hỏi: 3 điều nên làm, và ba điều không nên làm trong việc giáo dục là gì? Mỗi người chúng ta đều có thể tự trả lời được.

    Theo tôi, 3 điều nên làm là: Một, học mưu sinh thoát hiểm: biết trồng trọt, săn bắn, hái trái, câu cá, câu tôm, nuôi gà nuôi vịt, … Biết giữ vệ sinh, phòng ngừa bệnh tật, tránh chỗ nguy hiểm. Hai, học cách sống chung với mọi người, để sao tôi được hạnh phúc, nhưng người khác cũng được vui, thảo kính cha mẹ, kính trên nhường dưới, …, để xã hội được hòa bình. Ba, học để phát triển tài năng, năng khiếu, người thì múa hát, người thêu vẽ, người đá banh, làm xiệc, người làm thầy thuốc để chữa bịnh cho người vật, vv.

    Ba điều không nên làm: Một, không học để tranh đua. Lão Tử dạy: nếu ta không tranh với ai, thì chả ai tranh lại với mình. Hai, không học quá đến hại vào thân. Ba, không học để làm giàu cho bản thân. Ích quốc lợi dân thì được, nhưng không để tích trữ của cải cho riêng cho mình.

    Ít nhất, những điều căn bản cần phải có trước, còn thực hành làm sao cho hiệu quả, thì mỗi nơi mỗi khác, mỗi thời đại có cách thức riêng.

    Số lượt thích

  5. Nước Nhật được như ngày nay có công rất lớn của Fukuzawa. Tất các các cán bộ của Bộ Giáo dục Việt Nam cần phải được đọc Khuyến học. Các em học sinh cuối cấp 2 nên được biết đến những cuốn sách như thế này.

    Số lượt thích

  6. Về cơ bản tôi đồng tình với ý kiến của Phan Như Huyên ở trên nhưng có 1 điểm tôi phản đối “Ba, không học để làm giàu cho bản thân. Ích quốc lợi dân thì được, nhưng không để tích trữ của cải cho riêng cho mình.”
    Trước hết mỗi cá nhân là 1 thực thể riêng biệt, còn mỗi quốc gia lại là tổng thể của các cá nhân. Động lực cơ bản để mỗi người học tập là lợi ích cá nhân đó. Khi mỗi cá nhân đạt được lợi ích của mình mà không gây ảnh hưởng xấu tới cá nhân khác sẽ tạo nên một tổng thể của những cá nhân tiến bộ từ đó mới có 1 quốc gia tiến bộ. Còn nếu nói ích quốc lợi dân thì không có 1 chủ thể cụ thể, 1 quốc gia không phải là chủ thể ngang hàng với cá nhân trong quốc gia đó, mà chỉ khi đứng cùng quốc gia khác. Còn nếu là lợi ích quốc gia thì cần phải cụ thể đó là lợi ích gì, lợi cho ai, nếu không đó sẽ là lợi ích không minh bạch. Đôi lời góp ý như vậy, mong được lắng nghe thảo luận và góp ý.

    Số lượt thích

  7. Tôi thấy:
    1. Ngày nay, nhiều gia đình cho con cái du học( chưa bàn nguồn tiền ở đâu)
    2. Chúng ta cứ tranh luận học ở đâu, học như thế nào, dạy ra làm sao
    Mà chúng ta không hỏi: Làm sao tạo động lực cho việc học?
    Thiết nghĩ: môi trường học tập, dụng cụ học tập, PP giải dạy chỉ là phần ngọn, phần thể hiện bên ngoài của giáo dục? Cái cốt lõi của việc học là người học nhận thấy rằng việc học là vất vả, là hy sinh các thú vui khác nhưng đó là con đường đểhoàn thiện, nâng cao giá trị bản thân. Sẽ chả có ai đi học kỹ thuật, đi nghiên cứu nếu ai ai cũng chỉ thấy học hết lớp 9, mở một cửa hàng tạm hóa, mở một quán cà phê cóc, mở một tiệm cầm đồ mà có thu nhập hàng tháng cao hơn thu nhập của kỹ sư, của tiến sĩ…. Ý tôi muốn nói: đầu tiên là cha mẹ( người đi trước) phải gieo, phải cho con cái một ước mơ, một hoài bão thực hiện một sứ mệnh nào đó. Mỗi gia đình sẽ cho con cái của mình một ước mơ, con cái khi có ước sẽ có động lực,lý do để hy sinh, có ý chí để đeo bám việc học, và chọn học những điều hay, điều thiết thực cho bản thân, cho ước mơ, hoài bão của mình. Khi đã MUỐN học, người ta có thể học bằng mọi cách, học bằng mọi giá. Khi người đi học có động lưc học, thì người dạy mới phát tiết được năng lực sư phạm của mình, trang thiết bị học tập mới hỗ trợ được việc dạy và học.
    Vị vậy, thế hệ đi trước hãy cho thế hệ sau ƯỚC MƠ.
    ( Mình đọc nhiều bài viết của anh Bảo Châu, chưa khi nào mình đọc được lý do: tại sao a Châu đi học toán? học toán thì có cái gì vui, cái gì thiết thực, học toán thì giải quyết được những gì trong cuộc sống thực tiễn? nhờ học toán mà ta đã hiểu, đã chứng minh, đã giải quyết được việc gì cụ thể?
    Qua đây, tôi cũng tưởng nhớ đến người thầy dạy vật lý năm lớp 9 của tôi, thầy Mạnh Trí. Trong giờ học, thầy đã kể những câu chuyện về HONDA. Qua chuyện kể của thầy, tôi có ước mơ trở thành 1 kỹ sư cơ khí, và tôi đã tốt nghiệp DHBK TpHCM, rồi bám theo nghề cơ khí hơn 15 năm nay, tôi cũng đã chế tạo được một số máy móc, … Nhờ ước mơ mà Thầy để truyền cho tôi mà tôi có ham mê cho việc học, cho việc TỰ HỌC, TỰ NGHIÊN CỨU.

    Số lượt thích

  8. Nước Nhật thời phong kiến Mạc phủ cũng u mê tăm tối lắm.
    Nhưng may mắn là không u mê tăm tối đến mức coi tất cả những ai có suy nghĩ không giống với “đấng bề trên” là “thế lực thù địch, phản động”. Họ cũng không tìm cách bỏ tù những người “bất đồng chính kiến”.
    Có lẽ nhờ vậy mà bây giờ Nhật đã là một cường quốc, cả thế giới phải thán phục.

    Số lượt thích

  9. tôi nay đã trên 50 tuổi rồi,vậy mà khi đọc tác phẩm này người run lên vì cảm động.ước gì mọi thanh niên học sinh của nước ta đều được học sách này.

    Số lượt thích

  10. Đọc bản dịch Khuyến học tôi rất khoái câu:
    “Khai phá văn minh là công việc của khu vực tư nhân, bảo hộ là công việc của chính phủ.”
    Nó chỉ rõ nhiệm vụ của chính phủ và của bộ phận trí thức. Nếu thực hiện được thế tức là chính phủ đã sử dụng được trí thức mà không cần tuyển dụng họ. Làm được thế thì lo gì chảy máu chất xám?
    Tiếc là chính phủ ta không những không bảo hộ mà còn kìm hãm khu vực tư nhân.
    Ví dụ : Làm hiến pháp thì kêu gọi dân chúng cho ý kiến, kể cả ý kiến trái chiều cũng được. Nhưng khi người ta đòi sửa điều 4 thì lại bảo là “suy thoái đạo đức”.

    Số lượt thích

  11. Bàn luận tí mà lại không hiện lên. Buồn quá.

    Số lượt thích

  12. “Học những môn thiết thực cho cuộc sống”

    Rõ ràng chúng ta học quá nhiều cái không bao giờ dùng đến.
    Tôi đến một trường Đại học hàng đầu ở HN hỏi sinh viên Sư phạm toán, được biết: 3 năm đầu học toán cao cấp bên khoa toán, năm cuối học sư phạm. Thật là khó hiểu. Bỏ 3 năm học toán cao cấp để ra trường dạy toán sơ cấp. Cái quan trọng với giáo viên là phương pháp sư phạm, không chỉ đứng lớp mà là làm lớp – cách điều khiển đám đông. Nếu đổi ngược chương trình thì tuyệt biết bao.

    http://vnexpress.net/tin-tuc/khoa-hoc/tien-si-toan-gia-dung-hoc-toan-thi-tot-hon-2215142.html

    Liked by 1 person

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Nhập địa chỉ email để nhận thông báo có bài mới từ Học Thế Nào.

%d bloggers like this: