How We Learn

Đổi mới giáo dục: phải bắt đầu từ gốc – Trần Nam Dũng

Đề án “Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục Việt Nam” do bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Phạm Vũ Luận trình bày và xin ý kiến đóng góp đã nhận được sự quan tâm của công luận với nhiều luồng ý kiến, thậm chí có những ý kiến trái chiều. Tuy nhiên, phải khẳng định rằng: Đây là một đề án đáng để góp ý. Nó không còn quá nhàn nhạt, chung chung, giáo điều và hô khẩu hiệu như các đề án trước đây. Vì phạm vi của đề án rất rộng, trong bài viết này, chúng tôi chỉ đề cập đến hai vấn đề mà bộ trưởng Phạm Vũ Luận coi là then chốt và đột phá khẩu: Xây dựng đội ngũ giáo viên và thay đổi căn bản phương pháp học tập và giảng dạy.

Trong cuốn sách “Về giáo dục đào tạo, đôi điều ghi lại”, NXB GD Việt Nam 2011, GS. Trần Văn Nhung, nguyên thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đưa ra quan điểm của mình về bản chất của quá trình giáo dục và đào tạo: Đó là bốn đỉnh của một tứ diện gồm Gia đình – Nhà trường – Xã hội – Tự học. Nếu ba đỉnh đầu đã được thừa nhận thì đỉnh thứ tư là một bước đột phá trong quan điểm, vì lúc này bản thân người học được tham gia vào quá trình giáo dục, đào tạo chính mình. GS. Nhung chia sẻ: “Dù có được giáo dục từ tấm bé trong gia đình, trong nhà trường hay ra xã hội, khả năng tự học thêm, tự thẩm thấu, tự hoàn thiện mình luôn đóng vai trò quyết định. Nhất là trong thời đại IT/ICT ngày nay, đòi hỏi “tự học” (Self Learning) theo nghĩa rộng, càng trở nên quan trọng và phổ cập.”

Đổi mới giáo dục: phải xuất phát từ đội ngũ giáo viên

Nếu con cái tự hào về cha mẹ của mình. Nếu học sinh tự hào về thầy cô của mình. Nếu công dân tự hào về đất nước của mình. Nếu mỗi người tự hào về chính mình, họ sẽ sống tốt hơn, có trách nhiệm hơn.

Vai trò của người thầy giáo trong giáo dục vô cùng quan trọng. Họ không chỉ là người dẫn dắt học sinh đến với kiến thức, truyền cho học sinh ngọn lửa đam mê tìm kiếm và khá phá, họ còn là những tấm gương để học trò noi theo, phấn đấu, là động lực khiến các học sinh vượt qua khó khăn tiến về phía trước.

Người thầy giáo cũng đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành phong cách học, truyền đạt phương pháp học cho học sinh. Vì thế, muốn đổi mới phương pháp học từ thụ động sang chủ động, trước hết phải đổi mới từ phương pháp dạy của người thầy.

Tôi rất tâm đắc với câu nói của văn hào Nga Anton Chekhov nói về những điều cần có của một con người “Trí tuệ minh mẫn – Đạo đức trong sáng – Thân thể sạch sẽ”. Và yêu cầu này rất đúng khi áp dụng làm tiêu chuẩn của một người thầy giáo. Trí tuệ minh mẫn có nghĩa là chuyên môn vững vàng, luôn có khả năng trau dồi, học hỏi, tiếp thu những cái mới, cái hay để tiến bộ không ngừng. Đạo đức trong sáng nghĩa là làm việc với cái tâm, vì học trò, đối xử công bằng, đúng mực với học sinh, yêu thương học sinh, luôn là tâm gương về nhân cách cho học sinh noi theo. Thân thể sạch sẽ là luôn chỉn chu trong ăn mặc, nói năng, giữ chuẩn mực thần thái của người thấy giáo. Thầy cô giáo trong mắt học trò phải luôn đẹp về mọi mặt.

Để có được một đội ngũ giáo viên như vậy chúng ta phải đổi mới ngay từ khâu đào tạo, tránh đào tạo kiểu hình thức chủ nghĩa, cưỡi ngựa xem hoa và thuần túy lý thuyết như hiện nay. Tôi chia sẻ quan điểm của TS. Nguyễn Tùng Lâm, Chủ tịch Hội Tâm lí giáo dục Hà Nội, trong bài trả lời phỏng vấn điện tử Giáo dục Việt Nam gần đây: “Đào tạo tay nghề cũng phải thay đổi, chúng ta không đào tạo theo lý thuyết nữa. Trước nay chúng ta bồi dưỡng giáo viên theo lý thuyết tức là mời giáo sư này, giáo sư kia dạy tràn lan đại hải, giáo viên dự 1-2 giờ hết rồi đi về. Bộ bồi dưỡng xuống tỉnh, tỉnh xuống huyện, huyện về trường rồi cuối cùng cũng chẳng được là bao. Bồi dưỡng là phải nâng được nhận thức, quan điểm, trình độ mới nhưng phải chỉ cho họ làm thế nào, mà chỉ cho họ làm thế nào thì phải là người giỏi. Phải đào tạo những giáo viên giỏi, trang bị lại nhận thức cho họ để sắp xếp. Quan điểm của tôi phải dùng người giỏi để bồi dưỡng cho giáo viên chứ không thể dùng học vị.”

Cuối cùng, ta phải có những chế độ đãi ngộ xứng đáng (trong khả năng có thể) để giáo viên có thể yên tâm công tác, cống hiến. Không thể hô hào hy sinh, đóng góp cho sự nghiệp giáo dục suông được, nhất là trong bối cảnh kinh tế xã hội hiện nay. Người thầy giáo không đòi hỏi gì lớn lao, nhưng đóng góp của họ phải được ghi nhận, và nhất thiết phải có sự công bằng.

Học tập chủ động: Hiệu quả nhưng khó triển khai?

Không phải cho đến hôm nay chúng ta mới biết được lợi ích của việc học tập tích cực. Ngạn ngữ Trung Quốc có câu “Nói cho tôi biết và tôi quên. Đưa cho tôi xem và tôi nhớ. Cho tôi tham gia vào và tôi hiểu”. Các bậc lương sư nổi tiếng trước đây cũng luôn gắn liền học với hành, truyền đạt kiến thức và tranh luận thông qua các thể loại phong phú như bình, phú, xướng, họa… Khổng tử đâu chỉ dạy học trò trong phòng học, ông cho học trò “xuống núi” để thực hành các thuật “trị quốc, bình thiên hạ”.

Bao thế hệ học trò thời hiện đại cũng đã biết đến học tập tích cực. Nếu không có học tập tích cực, làm sao ta có được bao nhiêu giáo sư, bác sĩ, kỹ sư, doanh nhân, nhà chính trị, tướng lĩnh quân đội tài giỏi, mưu lược đã có những đóng góp to lớn trong công cuộc kháng chiến cứu quốc trước đây, bảo vệ và xây dựng tổ quốc ngày hôm nay?

Nhưng tình hình hiện nay trong giáo dục đang ở mức báo động. Không hiểu từ lúc nào nhưng học sinh, sinh viên ngày nay đang học tập một cách quá thụ động. Cách làm cứng nhắc, rập khuôn từ giảng dạng, tổ chức giảng dạy đến đánh giá, thi cử đã triệt tiêu hoàn toàn sử chủ động sáng tạo của học sinh. Cái gì người ta cũng làm mẫu cho học sinh để học sinh lặp lại một cách cơ học. Đó là cách dạy của những người lười biếng, thiếu trách nhiệm, chạy theo thành tích trước mắt. Một điều chúng ta quên rằng mục tiêu của giáo dục không chỉ là truyền đạt kiến thức mà hơn hết là dạy học sinh cách tìm hiểu kiến thức. Phải dạy cho học sinh biết tự học.

Albert Einstein, nhà vật lý vĩ đại của thế kỷ 20 đã từng nói “Giá trị của giáo dục đại học không phải ở việc học nhiều sự kiện, mà là luyện cho trí óc suy nghĩ”. Mục tiêu đó, giá trị đó khó lòng đạt được nếu học sinh sinh viên không biết tự học, tự suy nghĩ, mày mò mà thay vào đó chỉ tiếp thu kiến thức và những lời giải thích, bình luận một cách thụ động.

Khổng Tử, người được tôn xưng là “Vạn thế sư biểu” (người Thầy của muôn đời) đã nói về sự học “Kẻ nào chẳng gắng sức để hiểu thông, thì ta chẳng giúp cho hiểu thông được. Kẻ nào không cố gắng tỏ bày ý kiến, thì ta chẳng giúp cho phát triển được. Kẻ nào biết một góc mà chẳng chịu tìm hiểu thêm ba góc kia thì ta chẳng dạy cho”. Như thế, có thể nói Khổng Tử đánh giá rất cao vai trò của tự học, của sự gắng sức, của sự chủ động. Bản thân Khổng Tử thành tài cũng do tự học mà nên.

Ta đã biết lợi ích của học tập chủ động. Nhưng việc triển khai trên thực tế gặp rất nhiều khó khăn. Đã có biết bao nhiêu lời hô hào, đã có biết bao nhiêu hội thảo, tập huấn, đã có biết bao nhiêu phong trào thi đua nhưng kết quả vẫn thật khiêm tốn. Bởi ta chưa hiểu một điều căn bản là triển khai một vấn đề như thế là một việc khó, nhất định phải có một kế hoạch tổng thể và dài hơn, phải có những chính sách nhất quán, đồng bộ. Đặc biệt, đâ không phải là công việc của ngày một, ngày hai.

Đơn cử một ví dụ thực tế: từ vài năm nay, giáo dục đại học có chủ trương rút từ 210 tín chỉ xuống còn 140 tính chỉ với chủ đích tăng cường thời gian học tập chủ động của học sinh. Và hệ quả là gì? Chủ động đâu chưa thấy, nhưng chất lượng đào tạo giảm xuống rõ rệt (dù rằng con số thống kê về SV tốt nghiệp, SV giỏi vẫn rất… đẹp). Vì sao? Vì chúng ta chưa có sự chuẩn bị gì cho sự thay đổi này. Sinh viên chưa được chuẩn bị tốt, thầy giáo cũng thế. Tất cả chỉ là sự cắt xét cơ học. Đúng ra, khi đổi cách học, ta phải đổi cách ra bài tập, cách kiểm tra đánh giá, cách tổ chức công tác cố vấn học tập. Nhưng ta đã không làm thế, chỉ đơn giản là cắt giờ dạy của giáo viên và đẩy hết cho sinh viên.

Tương tự như vậy, ở trường phổ thông, ta hô hào đổi mới phương pháp giảng dạy, chuyển sang triết lý giáo dục lấy người học làm trung tâm nhưng vẫn giữ khung chương trình cũ, cách ra bài tập cũ, cách chấm giờ học cũ (có soạn giáo án chi tiết không? có bám sát chương trình không), cách thi cũ. Giáo viên bị gò bó trong một khuôn khổ, bứt phá ra là có nguy cơ bị đánh giá yếu kém. Đổi mới sao được.

Đổi mới phương pháp giảng dạy phải gắn liền với đào tạo giáo viên, với đổi mới cách thức đánh giá tiết học, đánh giá giáo viên, đánh giá học sinh. Phải áp dụng đánh giá theo chuẩn đầu ra chứ không phải theo từng khung giờ. Và tất cả phải làm từng bước, không thể đi nhanh.

Là một giáo viên, tôi thực sự vui mừng và hy vọng khi Bộ giáo dục đã đưa ra được một đề án có nội dung tốt và tương đối khả thi. Còn nhiều điều phải bàn thêm, bổ sung những kế hoạch cụ thể, tuy nhiên bước khởi đầu như vậy là khá khả quan. Quan trọng là chúng ta dám mạnh dạn bước tiếp, triển khai được những ý tưởng. Vừa làm vừa hoàn chỉnh nhưng không đi chệch mục tiêu ban đầu, nhất định không “đẽo cày giữa đường”, không “đánh trống bỏ dùi” và không “đầu voi đuôi chuột”. Như hình ảnh của bộ trưởng Phạm Vũ Luận ví von, ta bước vào trận chiến và không được phép run chân, chùn bước.

Trần Nam Dũng
Giảng viên trường ĐH KHTN TP. HCM

Trần Văn Nhung

Tứ diện đều: Chúng ta đều biết đến tam giác đều Gia Đình – Nhà Trường – Xã hội tạo nên con người. Như anh Dũng đã nói trong bài báo, tôi cho rằng tứ diện đều mà đáy là ba đỉnh nói trên, và đỉnh thứ tư là Tự học/Tự thẩm thấu mới là bốn yếu tố đầy đủ để tạo nên con người hoàn chỉnh, nhất là trong kỷ nguyên IT/ICT hiện nay. Chỉ khi thành một tứ diện đều thì nó mới có thể tích, còn tam giác đều có thể tích bằng không! Tuy nhiên, theo tôi, tại mỗi thời điểm bất kỳ của cuộc đời con người, tam giác và tứ diện vừa nói đến không đều, nhưng nếu lấy trung bình theo thời gian trong cả cuộc đời thì chúng đều.

Xin nhắc lai một câu nói của W.A.Ward để góp phần minh họa cho bài báo của TS. Dũng: “Người thầy trung bình chỉ biết nói, người thầy giỏi biết giải thích, người thầy xuất sắc biết minh họa, người thầy vĩ đại biết cách truyền cảm hứng.”

Advertisements

Tagged as:

Categorised in: Nghĩ về việc học và dạy, Tiếng nói giáo viên

37 phản hồi »

  1. Khổng Tử nói: Khi học trò sẵn sàng, thì ông thầy xuất hiện trước ngõ.

    Tôi đồng ý với thầy Dũng: Phải bắt đầu từ gốc. Nhưng đọc hết bài, tôi vẫn chưa thấy cái gốc ở đâu. Tôi xin đưa ra một thí dụ về lớp Mẫu giáo. Tôi học Mẫu giáo lâu lắm rồi, không còn nhớ mình đã học cái gì. Nếu có học được gì thì nó đã hòa tan vào xương thịt, và tôi đã sống chết với nó từ bao lâu nay.

    Bây giờ, xin lấy Mẫu giáo làm gốc, trong môi trường sống hằng ngày ở đây (Cali). Các em được học văn: đánh vần, tập viết. Các em được học toán: đếm số. Các em học vẽ, hát, nhảy múa. Ngoài ra, các em học văn hóa và lễ phép. Những câu các em phải luôn có trên cửa miệng cho đến chết: thank you, I am sorry, you are welcomed, how are you, good morning, good bye… Cám ơn bạn, xin lỗi bạn là hai câu nói các em phải lập đi lập lại nhiều lần trong ngày. Thành ra thói quen. Aristotle nói: Con người làm thành bởi thói quen. Cho nên, đức hạnh không phải là hành động mà là thói quen. Không biết bên Âu châu thế nào, nhưng ở Mỹ, hai tiếng cám ơn và xin lỗi có phần lạm phát, nhưng thà là thừa còn hơn thiếu.

    Kế đến, các em chào cờ mỗi ngày một lần. Nếu không có intercom, thì mỗi lớp tự chào cờ. Các em không hát quốc ca, nhưng để tay trên ngực, đọc một bài kinh ngắn mà em nào cũng thuộc: I pledge alligiance (tôi hứa trung thành với) to the flag of the United States of America, and to the republic for which it stands, one nation under God, indivisible with liberty and justice for all.

    Thỉnh thoảng, các em tập đếm tiền. Căn bản là tờ một đồng, lớn hơn là 2 đồng, 5 đồng, và 10 đồng; nhỏ hơn là 25 xu, 10 xu, 5 xu, và 1 xu (nước ta thì hơi trừu tượng hơn, căn bản là tờ 100 đồng (?)). Thỉnh thoảng, cô dắt các em ra đường, đến đèn đỏ, đứng lại chờ đèn xanh. Đây chứng tỏ là một xã hội thượng tôn pháp luật. Vừa đi các em vừa học tại sao phải làm như thế?
    Nếu có cơ hội, các em thực tập mua hàng. Khi trả tiền cho món hàng một đồng, các em phải trả thành một đồng 8 xu. Tại sao thế? Tại vì mọi người dân phải đóng thuế, thì chính phủ mới có tiền để làm đường…

    Thế rồi, về lớp các em thảo luận với nhau. Cô hỏi: tại sao có người vượt đèn đỏ? Tại sao có người không đóng thuế? Hậu quả ra sao? Và các em giơ tay lên để trả lời. Rồi cô giải thích cho các em. Nếu em làm gì sai cho bạn, em xin lỗi. Nếu cô đưa cho em một bài mới, em nói cám ơn. Như vậy, gốc là gì? Có phải là ngay trong những lớp Mầm non, ta bắt đầu một gia đình mới trong xã hội.

    .

    Số lượt thích

    • Có người nói đổi mới giáo dục phải bắt đầu từ chương trình, sách giáo khoa. Quan điểm của tôi là bắt đầu từ phương pháp dạy và học. Mà muốn đổi mới phương pháp thì phải bắt đầu từ đội ngũ giáo viên. Các ví dụ của anh đưa ra bên cạnh ý dạy những gì cũng nói đến 1 ý quan trọng: dạy như thế nào? Tại sao phải dạy như thế?

      Số lượt thích

      • Cám ơn thầy Dũng!

        Số lượt thích

      • Tác giả TND viết: “Đổi mới giáo dục: phải bắt đầu từ gốc” và “Quan điểm của tôi là bắt đầu từ phương pháp dạy và học. Mà muốn đổi mới phương pháp thì phải bắt đầu từ đội ngũ giáo viên.”
        Vậy xin hỏi anh TND:
        1) Trên cơ sở nào để nói đội ngũ giáo viên (rồi PPDH) hay không phải cái khác mới là gốc của giáo dục?
        2) Giáo dục (Việt Nam) được hiểu dưới góc độ nào? Nếu từ góc độ coi giáo dục như một hệ thống (hệ thống con của hệ thống lớn xã hội – kinh tế) thì tôi lại cho rằng gốc của vấn đề lại là sự tha hóa và …. Đổi mới giáo dục phải bắt đầu từ sự làm lành mạnh lại xã hội (cũng chưa phải gốc của gốc, hehe).

        Số lượt thích

      • Chuẩn Nam Dũng ơi!
        Thầy xuất sắc thì đầy chương trình trên Google!

        Dạy học là dạy cách học chứ không phải dạy nội dung!

        Số lượt thích

  2. Một bài tản mạn viết đã khá lâu nhưng cho vào đây có vẻ cũng hợp 🙂

    Thuở nhỏ học lớp tư, lớp ba ở bậc tiệu học, trong giờ quốc văn, ngoài những bài Tập đọc nói về từng chủ điểm như gia đình, đất nước, quê hương chúng tôi còn được học những bài Học thuộc lòng. Đây là những bài văn vần, lời lẽ giản dị, phù hợp với những suy nghĩ và quan sát của tuổi thơ nên học sinh dễ nhớ, dễ thuộc.

    Lên lớp nhì và lớp nhất, các bài văn xuôi cũng như văn vần dài ra, nội dung dân trừu tượng hơn nhưng cũng rất dễ nhớ. Đã hơn bốn mươi năm, không phải tập trung nhiều, tôi vẫn còn nhớ những bài học ấy, chẳng hạn “Chuyến đi dài”, “Giờ quốc sử”,…

    Không biết các em nhỏ bây giờ thế nào chứ chúng tôi, những học trò miền quê lúc bấy giờ nghe đến những từ “quốc sử”, “quốc văn” thì cảm thấy có điều gì đó thiêng liêng. Bên cạnh những bài văn, bài học thuộc lòng “nôm na, quê kệch”, chúng tôi học những giờ quốc sử, địa lý về đất nước mình, ước mong được rong ruỗi khắp các miền quê hương trên những chuyến xe thổ mộ ở vùng sông nước miền nam hay cưỡi trên những chú ngựa của vùng cao nguyên tràn đầy nắng vàng hoặc đứng trên đê Yên phụ một chiều lộng gió. Mơ mộng cũng chỉ để mơ mộng thế thôi vì hồi đó đang chiến tranh khốc liệt, ngay thèm một mảnh trăng thanh bình để đùa chơi trên đường làng cũng chẳng có được…

    Chương trình học của học trò bây giờ hiện đại hơn, nội dung bác học hơn ngay cả ở cấp tiểu học. Không rõ sách cải cách lớp 1, lớp 2 bây giờ thế nào chứ cách đây mươi, mười năm sách viết cho học trò tiểu học mang tính hàn lâm quá. Ngay ngữ pháp tiếng Việt dạy cho trẻ nhỏ, nhiều chỗ người lớn mướt mồ hôi mới hiểu được,…

    Chúng ta có nhiều bài học về tình người, lòng nhân ái, tình yêu tổ quốc thật hay mà các cuốn sách ngày xưa như “Quốc văn giáo khoa thư”, “Quốc văn toàn tập”,…nay vẫn không mất thời gian tính. Không rõ các soạn giả sách giáo khoa có chọn lọc, đưa một số bài viết ngắn rất hay dạng “Chicken soup” mà báo Tuổi trẻ và các báo khác thỉnh thoảng trích đăng để đưa vào sách tập đọc, sách đọc thêm tiếng Việt lẫn tiếng Anh,…

    Tuổi thơ nên đặt nặng yêu cầu rèn dũa, hun đúc tình yêu quê hương, tình người, nhân cách, đạo đức, nếp sống trước khi học văn hoá. Câu “Tiên học lễ, hậu học văn” vẫn có giá trị như thuở nào. Thời tiểu học phải để học sinh học thoải mái, vui tươi; làm sao để các em cảm thấy nhu cầu thôi thúc đến trường, đến lớp; không bị áp lực nặng nề của bài vở, thi đua căng thẳng. Thầy cô dạy dỗ cho các em biết viết chữ rõ ràng, ngay hàng thẳng lối, biết đọc rõ ràng, biết trình bày, phát biểu ý kiến độc lập của mình, tập những thói quen như biết tôn trọng sự thực, lễ độ với người lớn, thành thật, khiêm tốn, dũng cảm. Ngay những điều rất nhỏ như là không được xả rác bừa bãi, không viết bậy lên bàn ghế, giữ gìn của công, tiết kiệm… Nếu những thói quen này được hình thành sớm thì nó sẽ gắn bó suốt đời với các em. Tuổi này không quá đặt nặng kết quả thi cử, điểm số. Những kiến thức ở tiểu học không phải là điều gì quá ghê gớm. Những em học sinh phát triển bình thường, dạy và học thoải mái thì sau 5 năm học, các em sẽ đọc thông viết thạo tiếng Việt, làm thành thục bốn phép tính cộng trừ nhân chia. Các bài toán đố sẽ kích thích các em vui mà học. Những phương trình, qui tắc đại số, những khái niệm tập hợp, hệ thức đa ngôi do con người bịa ra thôi thì để lên lớp trên, khi qua cấp 2 các em học cũng chẳng muộn vào đâu. Rèn tính cách, thói quen của con người khi còn nhỏ dễ hơn nhiều so với khi trưởng thành, ngược lại các tri thức khoa học tự nhiên, xã hội, tuổi lớn học dễ hơn, nhanh hơn do có ý thức tập trung học để đạt được những hiểu biết cần thiết.
    …………………

    Số lượt thích

  3. Xin đề nghị Ban biên tập sửa một vài lỗi chính tả nhỏ trong mấy dòng ghi lại bình luận của tôi sau bài của TS TN Dũng. Trong nguyên bản tôi không có lỗi như vậy. Xin cám ơn! Trần Văn Nhung.

    HTN: trân trọng cảm ơn GS Trần Văn Nhung đã nhắc lỗi. HTN đã sửa lại. Xin thành thật xin lỗi GS Nhung và bạn đọc. NBT sẽ cố gắng lưu ý hơn khi biên soạn.

    Số lượt thích

    • Vâng, xin cám ơn NBT của HTN đã hiệu chỉnh rất nhanh chóng, chỉ sau một đêm (tức là ngoài giờ làm việc chính thức), vài lỗi nhỏ trong mấy dòng bình luận của tôi!

      Nhân tiện tôi cũng xin được nói rằng nhiều bạn đọc, trong đó có tôi, rất phấn khởi và chúc mừng HTN, mặc dù còn non trẻ nhưng đã trở thành một diễn đàn giáo dục hấp dẫn và bổ ích cho các chuyên gia giáo dục có uy tín, cho các thầy cô giáo và học sinh, sinh viên trong cả nước và nước ngoài. HTN càng có ý nghĩa và đóng góp thực sự cho việc trao đổi và triển khai Đề án “Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục Việt Nam”. Xin chúc HTN tiếp tục trưởng thành và phát triển, đóng góp ngày càng nhiều cho sự nghiệp trồng người trên đất nước ta!

      HTN: Nhóm thực hiện HTN cám ơn GS Nhung rất nhiều! Sự cẩn trọng của GS Nhung trong câu chữ chính là một lời khuyên mà chúng tôi phải nhận ngay lập tức để tự nhắc mình mỗi khi xử lý văn bản.

      Số lượt thích

  4. Ngài Khổng phu tử mà giỏi giang đến thế, dạy dân khéo thế thì dân Trung Hoa nhà ngài ấy từ bao đời nay không man rợ tham tàn đến thế, xóm giềng xung quanh ai cũng ghét. Chỉ cần xem ngài ấy phân biệt dương với âm, cái gì hay tốt là dương, cái gì ác xấu là âm, rồi muốn triệt hết âm đi (thật là không biết thế nào là trời đất, vũ trụ), mà ai cũng biết là nam là dương, nữ là âm, thì tôi dám đoán rằng ngài ấy hay tốt ở đâu không rõ, chứ ở nhà vợ ngài chắc phải ghét ngài. Cho nên đem ngài ấy ra đây làm gương tôi thấy vẫn chưa phải là hay. Ngay cả cái trích đoạn trong bài cũng cho thấy ngài là người ích kỷ, nhỏ mọn. Nhưng bài của ông Trần Nam Dũng thì tôi thấy hay ạ, tuy có vài điều tôi còn muốn bàn cãi thêm.

    Số lượt thích

  5. Vâng, trước tiên là, tôi cũng cảm thấy khá hài lòng với đề án đổi mới của Bộ GD. Tôi hy vọng mọi người vẫn tiếp tục đóng góp ý kiến, và Bộ không ngừng lắng nghe, đối chiếu, đặc biệt là ý kiến của các chuyên gia. Về hai vấn đề “then chốt”, tôi muốn chúng ta nghĩ đến một vấn đề thứ ba mà tôi thấy hết sức quan trọng, đấy là việc dạy và học ngoại ngữ. Tôi xin lưu ý là “thế hệ vàng” thời các ông Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp đều là những người giỏi ngoại ngữ, sau các ông ấy thì các vị lãnh đạo khác có vẻ kém ngoại ngữ, và trong thời đại ngày nay, các giáo sư nổi tiếng của chúng ta cũng giỏi ngoại ngữ. Ngoại ngữ sẽ mở đường cho chúng ta vào kho tàng tri thức của cả nhân loại. Liệu chúng ta có thể bắt đầu đơn giản với các sách song ngữ cho trẻ con không?
    Cứ quan sát trẻ em Việt kiều, thường lúc đầu chậm nói vì phải học một lúc hai thứ tiếng, thì tôi thấy đến khoảng 5 tuổi là chúng bắt đầu nói rất tốt, thì tôi nghĩ là chúng ta có thể cho các em học ngoại ngữ từ sớm, miễn là đừng nhồi nhét thôi. Phát âm sai một chút cũng không đáng ngại, sau này sửa được. Dân các nước nói tiếng Anh họ cũng không phát âm hoàn toàn như người Anh đâu, thậm chí là rất khác. (Thưa các bác, chuyên gia ngoại ngữ chính là tôi đây!)

    Số lượt thích

    • Ý của bạn LH hợp lý nhưng chưa phải là phổ biến, vì Mỹ, Nhật, Đức có vẻ như họ không cần điều đó, họ đi đầu thì người khác phải học ngôn ngữ của họ? Ngay Đức hay Nhật, họ có vẻ ” bảo thủ” với ngôn ngữ của mình, lý do là có nhiều, hơn cả cái gọi là”bảo tồn bản sắc” có đúng không bạn?
      Vì là lĩnh vực xã hội, đòi hỏi tính thực tiễn rất cao, ngôn ngữ và ngoại ngữ có vai trò đặc biệt nhưng không hề đơn giản tại Việt Nam, theo tôi, cần đến vai trò giới “tinh hoa” như là người “dẫn dắt” và đồng thời nếu họ giỏi ngoại ngữ, họ giúp chắt lọc những “tinh tuý” của nhân loại để truyền bá, giáo dục mọi người. Vì tinh hoa thì hiếm nên như vậy là tối ưu?
      Chúng ta có quyền “mơ” thành quả sáng tạo như Google, Louis Pasteur…là từ ta, bằng Tiếng Việt thì chắc câu chuyện lại khác ý của bạn, bạn LH nhỉ!

      Số lượt thích

      • Xin HTN giúp sửa “Páteur… từ ta…” thành Pasteur … từ nước ta…

        Số lượt thích

      • Tôi thấy bác Tín Văn mơ thế thì tôi đoán bác ấy mơ làm sao cho trên thế giới mọi người đều nói tiếng Việt, để bác ấy khỏi phải học ngoại ngữ, hihi. Tất cả các nước mà bác kể ra, họ đều chú trọng việc học ngoại ngữ đấy. Về việc học ngoại ngữ theo kiểu “tinh hoa” hay theo kiểu “đại trà” thì tôi nghiêng về phía “đại trà”, vì người học chuyên ngoại ngữ thường được coi như người chèo đò đưa khách qua sông, khiêm tốn thế thôi, chứ làm gì có “tinh hoa chèo đò”? Và tôi thấy là mọi người có vẻ rất sợ ngoại ngữ, chắc là do ta dạy ngoại ngữ sai, chứ ngoại ngữ thì cũng là ngôn ngữ thôi, có ai sợ học tiếng mẹ đẻ hay không? Tôi còn cho là nếu ta dốt đến nỗi không thể học được bất cứ thứ gì, mà chỉ cần có trí nhớ thôi, thì ta vẫn còn có thể học ngoại ngữ. Học thuộc lòng vài chục bài thơ, đối với tôi là dễ hơn ngồi tính xem một con lắc đứt dây nó rơi ở đâu. Người ta cứ hay đòi người học ngoại ngữ phải nói hay y như dân bản xứ, thế mà, các bác có cho rằng dân bản xứ Việt Nam đều nói tiếng Việt hay cả hay là không? Mục tiêu học ngoại ngữ của tôi cực kỳ khiêm tốn, đối với tôi biết ngoại ngữ nghĩa là có thể đọc được sách bằng ngoại ngữ, dân toán đọc sách toán, dân văn đọc sách văn, dân luật đọc sách luật… chứ cũng chẳng bắt ai phải đọc mọi thứ sách trên đời. Một khi đã đọc sách tốt rồi, là đã có nền tảng, thì việc luyện nghe nói viết khi nào cần thiết cũng chỉ mất từ 3 đến 6 tháng thôi.

        Số lượt thích

      • Mình lại có ý kiến khác bạn lan hương về việc đưa việc học song ngữ (BILINGUALISM) vào chương trình phổ thông tại VN.
        Thứ nhất, việc dạy và học song ngữ phải có bài bản, đòi hỏi một đội ngũ giáo viên “giỏi thực sự” cả về chuyên môn lẫn ngoại ngữ. Mình thấy nhiều người mới học xong một bằng ĐH ngoại ngữ đã tự xưng là chuyên gia ngoại ngữ, trong khi trình độ ngoại ngữ để giao tiếp đơn giản cũng thiếu, chưa nói đến khả năng trao đổi ý kiến trong các hội thảo hay khả năng giải quyết các cuộc thương lượng là 0 (KHÔNG). Ở Ấn Độ do điều kiện lịch sử nên vai trò của tiếng Anh rất quan trọng. Không biết tiếng Anh thì coi như không thể làm trong chính quyền (thuộc địa của Anh), cũng như VN thời Pháp thuộc hay miền Nam VN thời Mỹ đóng quân. Thời đó có người trong chính quyền gốc Anh, Pháp hay Mỹ, đội ngũ giảng viên cũng là người bản gốc hoặc người Việt được đào tạo ở nước ngoài về, nên việc học song ngữ có hiệu quả, được thực hành ngay trong học tập hay công việc về sau. Còn thời nay, ở ta các trường quốc tế tuyển học sinh với mức lệ phí cao hơn cả ở Phương Tây, đội ngũ giáo viên thì VN là chính, may ra chỉ có vài người gốc Tây. Mà thực sự họ có giỏi hay không thì còn là điều chưa thể khẳng định được, chỉ biết là hơn mấy thầy cô người Việt thôi. Theo kinh nghiệm mình biết thời ĐH Ngoại Ngữ thì hầu hết giảng viên nước ngoài là sinh viên Tây mới tốt nghiệp, rất nhiệt tình, nhưng thiếu kinh nghiệm chuyên môn. Còn những giáo sư hay giảng viên giỏi người Tây thì chỉ dạy một hay hai học kỳ rồi về nước họ lại! Vậy với đội ngũ giáo viên không đạt tiêu chuẩn, thì việc dạy song ngữ sẽ tốn thời gian, tiền của và kém hiệu quả đối với học sinh và gia đình. Tốt hơn hết là VN ta cứ lo dạy học ngoại ngữ (1 ngoại ngữ cho học sinh ban KHTN, 2 ngoại ngữ cho học sinh theo KHXH, học sinh chuyên ngữ thì càng giỏi nhiều ngoại ngữ càng tốt).
        Thứ hai, việc học song ngữ đòi hỏi việc soạn sách các môn học rất kỳ công. Mà người (ban) soạn sách và người (ban) dịch sách vừa phải là các chuyên gia giỏi chuyên môn và cả ngoại ngữ. Điều này thật không dễ vào thời điểm này ở VN. Thời Pháp thuộc thì dễ khả thi hơn! Thời nay, trong thời đại thông tin, để đi sâu nghiên cứu chuyên ngành thì các chuyên gia thường phải biết thêm tiếng Anh thường là do tự học. Tuy nhiên, đọc một cuốn sách tiếng nước ngoài để có thể HIỂU thì không đơn giản chút nào. Bạn lan hương ở Pháp bao lâu, mình không rõ, nhưng như mình ở bên Đức gần 30 năm thì thấy việc đọc HIỂU một cuốn sách, với trình độ ĐH hay trên ĐH, là điều không phải lúc nào cũng dễ và tự nhiên như thở ra, hít vào. Để có thể đọc, hiểu và cũng suy nghĩ, trao đổi về nội dung cuốn sách, thì người đọc không chỉ biết vốn từ đã học thuộc lòng, mà còn biết cách sử dụng vốn từ bối cảnh học thuật, trong bối cảnh giao tiếp, trong các văn bản pháp luật vv… Mà nếu như giảng viên đã hiểu được sách gốc, nhưng mà dịch sang tiếng mẹ đẻ một cách tối nghĩa, hoặc không biết cách truyền đạt sao cho học sinh hiểu (do thiếu phương pháp sư phạm) thì không thể khuyến khích học sinh được. Mình biết nhiều người nghiên cứu giỏi, nhưng giảng giải cho học sinh thì …không được tốt lắm, làm học sinh chỉ muốn tự học thôi. Nhưng đã liên quan đến ngoại ngữ thì ngoài việc tự học phải có giao tiếp, phải có tham luận, tóm lại là phải có thực hành thì mới biết được mình BIẾT ngoại ngữ đến mức nào. Hồi xưa lúc mình học ở VN, được điểm cao môn ngoại ngữ thì cũng nghĩ là mình khá lắm rồi. Ví dụ như đọc sách thì chủ quan nghĩ là mình hiểu hết, nhưng thực ra, có nhiều điều hiểu lầm mà không biết. Hoặc là năm 1998 khi mình lan đầu tiên từ Đức qua Mỹ thì thấy tiếng Anh giao tiếp cũng quan trọng không kém tiếng Anh trong các bài xã luận mà mình hay viết. Lúc đó thấy việc học ngoại ngữ mà không có giao tiếp nhiều thì như là lý thuyết suông, chẳng có thực hành!Do vậy, mình thấy mấy bác giỏi thật cả mấy thứ tiếng đều không tự nhận họ giỏi, mà họ luôn thực hành để trau dồi kỹ năng ngôn ngữ. Và thường thì các chuyên gia bên chuyên ngành đều cộng tác với các chuyên gia bên ngôn ngữ và ngoại ngữ thì mới có thể soạn được các bộ sách dịch có giá trị! Tự nhiên mình nhớ đến một giáo sư người Việt chủ tịch hội Việt Đức thời xưa, sang Berlin trao đổi với hội Đức Việt (DVG) giữa các chuyên gia về VN và ĐNÁ người Đức, ông nhầm từ “Anregung” với “Erregung” trong khi nói về “kiến nghị/đề xuất” thì ông lại nói thành “kích thích”. Ai mà là dịch giả, dịch sách giáo khoa sai kiểu này thì làm hỏng cả một thế hệ học sinh!

        Số lượt thích

      • “Mình lại có ý kiến khác bạn lan hương về việc đưa việc học song ngữ (BILINGUALISM) vào chương trình phổ thông tại VN.” Thanh Hảiiiiiii ! Đấy không phải là mình nói, mà là bạn đăng ngô nói !!! Khi đọc thấy bạn ấy nói thế, mình đã nghĩ bụng “được thế thì hay quá, chỉ sợ không có tiền mà làm thôi”. Mình chỉ muốn đưa môn ngoại ngữ vào từ cấp một, hoặc từ lớp lá thì càng tốt, kèm thêm nhiều sách truyện song ngữ để cho trẻ con (và bố mẹ chúng nó) tha hồ mà đọc. Còn học ngoại ngữ kiểu như TH đòi thì là quá khó, đúng là chẳng ma nào học được thật.

        Số lượt thích

    • Tôi cũng đồng ý với bạn LH về vai trò của ngoại ngữ. GS Egorov trong một lần nói chuyện với học sinh chuyên toán, có nói “Hai điều quan trọng nhất để học giỏi toán là giỏi ngoại ngữ và chăm luyện tập thể thao”. Còn nâng cao trình độ ngoại ngữ chung bằng cách nào? Chỉ cần tinh hoa giỏi ngoại ngữ hay đại trà? Theo mô hình nào: Singapore? Ấn Độ? Philippines? Đây là một vấn đề cần có những thảo luận sâu, ở đây chỉ nói về tầm quan trọng của nó. Phải nói là trình độ tiếng Anh của ta tuy có khá hơn một vài nước nhưng vẫn còn rất yếu. Và điều này ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển về mọi mặt.

      Số lượt thích

    • tôi nhất trí với ý kiến của lan hương, tôi đã đọc “phương án 0 tuổi” của GS Toàn và nhiều tài liệu trong và ngoài nước, thì nên đưa song nghữ vô ngay từ các cháu mầm non

      Số lượt thích

  6. ĐỔI MỚI GIÁO DỤC – ĐỔI MỚI CÁI GÌ? BẮT ĐẦU TỪ ĐÂU? AI LÃNH “ẨN” TIÊN PHONG?

    Đổi mới cái gì?
    “Đổi mới toàn diện nền giáo dục” là một đòi hỏi cấp thiết, bức bách thậm chí là vấn đề sống còn của dân tộc trong tình hình hiện nay. Đây là vấn đề được nhiều nhân sĩ trí thức, chuyên gia giáo dục rất nhiều lần lên tiếng cảnh báo. Tuy vậy, một vấn đề đặt ra là “đổi mới toàn diện nền giáo dục” là “đổi mới cái gì”, nên bắt đầu từ đâu và ai là người lãnh “ấn” tiên phong thực thi nhiệm vụ chính trị mang tầm quốc gia tối quan trọng này? Đó là vấn đề theo tôi, không thể không đặt ra ngay từ lúc này.
    Mục tiêu cuối cùng của bất kì nền giáo dục nào theo tôi cũng phải hướng đến việc hoàn thiện nhân cách và tri thức cho con người (thế hệ mai sau của đất nước) nhằm phụ vụ tốt nhất cho xã hội. Nếu chúng ta muốn có “sản phẩm giáo dục” – học sinh, sinh viên sau khi ra trường đạt chất lượng thì nhất định phải có những con người tham gia điều hành, quản lý (người đứng đầu các cơ quan quản lý giáo dục: Bộ, Sở, Hiệu trưởng các Viện, Trường Đại học…) và những con người trực tiếp đào tạo (đội ngũ các thầy cô giáo) đạt chất lượng. Chân thành và thẳng thắn nhìn nhận, suy cho cùng thời gian qua “sản phẩm giáo dục” của chúng ta phần nhiều không đạt chất lượng như mong muốn là do nền giáo dục của chúng ta đang có sự nhầm lẫn rất tai hại trong việc lựa chọn con người phục vụ trong ngành giáo dục ở hai khâu quan trọng này. Đây là một trong những “điểm yếu chết người” của nền giáo dục nước nhà; là hệ quả của những hạn chế hay tiêu cực đã và đang tồn tại mà dư luận xã hội nhiều lần lên tiếng chất vấn. Vì thế, nếu sắp tới đây nếu chúng ta tiến hành “đổi mới toàn diện nền giáo dục” nhưng lại không chú ý đến vấn đề này, tôi e rằng sẽ khó thành công như mong muốn.
    Vì vậy, trên bình diện lý thuyết, suy cho cùng, “đổi mới toàn diện nền giáo dục”, theo tôi trước hết là đổi mới về cách tư duy trong đào tạo và quản lý điều hành nền giáo dục (tôi xin nhấn mạnh là đổi mới cách tư duy chứ không phải là đổi mới tư duy như cách nói quen thuộc của nhiều người).

    Bắt đầu từ đâu?

    Thời gian qua, có rất nhiều nhân sĩ trí thức tâm huyết trên cả nước cho rằng, trước khi đi vào những vấn đề cụ thể nhất của công cuộc đổi mới toàn diện nền giáo dục thì việc xác định một “triết lý giáo dục” mang tính định hướng chung là vấn đề vô cùng quan trọng. Bởi nền giáo dục của chúng ta hiện nay đang đi “chệch hướng” chung quy cũng do thiếu một “triết lý giáo dục” rõ ràng cụ thể.
    Đồng tình với phát biểu của các nhân sĩ, trí thức về vấn đề này tuy nhiên, với quan điểm cá nhân, tôi cho rằng vấn đề xác định “triết lý giáo dục” nhất định phải xuất phát từ đặc trưng văn hóa, đặc thù thể chế chính trị cũng như tình hình xã hội của đất nước ta hiện nay với một cái nhìn trung thực và thẳng thắn nhất.
    Về vấn đề này tôi thấy đồng cảm với cái nhìn của giáo sư Hoàng Tụy đó là chúng ta “phải từ bỏ những quan niệm, tập quán, cách suy nghĩ về giáo dục đã quen thuộc một thời, can đảm tiến lên thực hiện một nền giáo dục khai phóng, như ở mọi nước văn minh hiện nay, dạy người nhằm rèn luyện nhân cách, phẩm chất trí tuệ, năng lực cảm thụ, ý thức cộng đồng, hướng theo thang giá trị phổ quát của nhân loại đương thời… Giáo dục phải hướng tới đào tạo con người hiện đại có cá tính nhưng bao dung, biết giao tiếp và hợp tác, biết làm việc có hiệu quả, có tư duy cởi mở với cái mới, thích dấn thân, không ngại đương đầu với thách thức, khó khăn, sẵn sàng chấp nhận mạo hiểm vì mục đích lớn và nhất là lương thiện, trung thực và có đầu óc sáng tạo, là những đức tính tối cần thiết trong đời sống xã hội hiện đại. Đó mới thật sự là dạy người theo nghĩa cao quý nhất. Đó mới thật sự là sứ mạng của giáo dục tiên tiến thời nay” (Báo Tuổi trẻ ngày 19/10/2012).
    Trên tinh thần phát biểu của giáo sư Hoàng Tụy cá nhân tôi cũng mạo muội cho rằng, giáo dục “khai phóng” trước hết phải làm sao giải phóng được cái sức ỳ, sự trì trệ trong tư duy, trong nhận thức của mỗi cá nhân. Giáo dục “khai phóng” trước hết giúp mỗi cá nhân nhận ra cái chân giá trị của bản thân mình, nhận ra chính mình. Nói cách khác đó chính là năng lực tự nhận thức, tự ý thức về bản thân – một trong những điều kiện quan trọng đầu tiên để mỗi cá nhân tự hoàn thiện nhân cách của chính mình. Một xã hội mà mỗi cá nhân không có năng lực để nhận biết mình; chỉ biết làm theo sự chỉ đạo, sự áp đặt; không có tư duy phản biện hay không dám phản biện… là một xã hội đang tiềm ẩn những mối nguy hiểm. Một em học sinh sau 12 năm trên mái trường phổ thông cộng thêm 4 năm trên giảng đường đại học nhưng không biết sẽ làm gì với những kiến thức đã học thì lỗi này hoàn toàn do những người điều hành và quản lý giáo dục.
    Mới đây “Đề án đổi mới toàn diện nền giáo dục…” do Bộ Giáo dục và đào tạo soạn thảo và công bố, trong phần “mục tiêu tổng quát” (điểm a) có viết rằng: “Giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện, yêu gia đình, yêu Tổ quốc; có hiểu biết và kỹ năng cơ bản, khả năng sáng tạo để làm chủ bản thân, sống tốt và làm việc hiệu quả – thực học, thực nghiệp; phát triển tốt nhất tiềm năng của mỗi cá nhân; đóng góp tích cực vào sự phát triển của đất nước;”.
    Trên tinh thần trao đổi góp ý và tôn trọng “sự khác biệt”, trước hết chúng tôi khẳng định vấn đề giáo dục cho thế hệ trẻ biết “yêu gia đình”, “yêu Tổ quốc” là đúng đắn, cần thiết. Tuy vậy, chúng tôi mạo muội nghĩ rằng, mục tiêu của giáo dục trước hết là phải giúp cho thế hệ mai sau của đất nước ý thức được, nhận thức được sự tồn tại của bản thân với tư cách là một cá nhân, cá thể độc lập trong mối quan hệ với xã hội và cộng đồng; giáo dục trước hết phải giúp cho mỗi cá nhân biết yêu và sống có trách nhiệm với bản thân mình sau đó mới tính đến những chuyện khác? Vì sao tôi lại nói như vậy?

    Trước hết, cần phải khẳng định, vấn đề “yêu bản thân” ở đây không phải là sự cổ vũ cho lối sống cá nhân ích kỷ, hẹp hòi; chỉ biết có mình mà không biết đến cộng đồng và mọi người xung quanh; không quan tâm gì đến xã hội hay rộng hơn là quê hương, đất nước. “Yêu bản thân” mình ở đây cần được hiểu là sự tự ý thức, tự khám phá khả năng, tiềm năng trong chính con người mình với tư cách là một cá thể tồn tại độc lập. Một người mà không biết “yêu bản thân” mình; không biết thương mình; không hiểu mình là ai, đang ở đâu và đang làm gì thì con người ấy là một gánh nặng cho cộng đồng và xã hội. Không những vậy, một khi không biết “yêu bản thân” mình rất dễ đưa đến sự vô trách nhiệm với bản thân. Mà một khi đã vô trách nhiệm với bản thân thì khó có thể có trách nhiệm với người khác chứ đừng nói chi là với gia đình, với Tổ quốc.
    Trong ý nghĩa này, có thể nói, việc giáo dục cho con người biết trước hết phải yêu và sống có trách nhiệm với bản thân mình là vấn đề liên quan đến phạm trù triết học về con người đã được rất nhiều triết gia, vĩ nhân trên thế giới thừa nhận. Theo đó giáo dục phải hướng đến giải phóng cho con người cá nhân ra khỏi mọi ràng buộc và định kiến ích kỷ và hẹp hòi; giáo dục phải làm sao tạo ra những con người tự do; giúp mỗi cá nhân ý thức về quyền và bổn phận của họ trong cuộc đời (trước hết là quyền được thừa nhận “cái tôi” và bổn phận của nó đối với chính nó; sau đó là quyền và bổn phận của nó đối với cộng đồng và xã hội)… Đây mới thực sự là mục tiêu và sứ mệnh trước hết của bất kỳ nền giáo dục chân chính nào. Và nếu ai đó cho rằng “đổi mới giáo dục phải bắt nguồn từ gốc” thì “cái gốc” theo tôi chính là ở chỗ này.
    Trong ý nghĩa này, nói như nhà bác học Einstein là: “mục tiêu của nhà trường là đào tạo nên những cá nhân tự hành động và tư duy nhưng biết nhìn thấy trong việc phục vụ xã hội nhiệm vụ cao cả nhất của cuộc đời”.

    Ai lãnh “ấn” tiên phong?

    Chúng ta bàn nhiều về vấn đề nội dung trong chiến lược đổi mới giáo dục nhưng vấn đề cá nhân nào, con người nào hiện nay thật sự có cái nhìn và cách tư duy mới về giáo dục sẽ lãnh “ấn” tiên phong nhằm cụ thể hóa chiến lược ấy thì gần như ít khi được bàn tới. Một cách cụ thể nhất, thử nghĩ với “đề án đổi mới toàn diện giáo dục” lần này thì ai là người thật sự có tư duy đổi mới, có tâm và có “tầm” được lựa chọn vào để tirển khai, thực hiện? Có vẻ do mọi người dành quá ít sự quan tâm cho vấn đề này nên Bộ giáo dục cũng không “tự giác công khai” để nhân dân giám sát?
    Qua các phương tiện truyền thông, thực tế thời gian qua cho thấy, những ý kiến đề xuất và yêu cầu đổi mới toàn diện nền giáo dục hầu như chỉ là tiến nói của một bộ phận nhà giáo, nhà trí thức, nhà nghiên cứu… vốn đang đứng ngoài hệ thống điều hành và quản lý trực tiếp nền giáo dục. Đặc biệt hơn nữa phần nhiều đó là những tiếng nói của những người đang ở vào độ tuổi “tri thiên mệnh”, “xưa nay hiếm” hoặc không là tiếng nói của những người bị xem là “lập trường quan điểm tư tưởng trái chiều”, “có vấn đề” (như trường hợp của nhà văn Nguyên Ngọc, giáo sư Hoàng Tụy, giáo sư Văn Như Cương, giáo sư Hồ Ngọc Đại, tiến sĩ Nguyễn Thị Từ Huy…). Đây là những người (mà theo quan sát và cảm nhận của cá nhân tôi) thật sự có cách nhìn, cách tư duy mới và nhất là rất có tâm huyết và trách nhiệm với nền giáo dục nước nhà. Nhưng liệu có ai dám trao “kiếm lệnh” cho những người này hay không hay tất cả đã được “sắp xếp” hết rồi, đã trao “kiếm lệnh” cho những “người cũ” với “cách tư duy cũ” đã và đang làm cho nền giáo dục lâm vào cảnh sa sút như thời gian qua?
    Thêm nữa, về vấn đề đội ngũ quản lý giáo dục ở các địa phương sắp tới đây sẽ lấy từ nguồn nào, đã có ai nghĩ tới chưa? Thử hỏi có khoa học không nếu lại phải sử dụng đội ngũ những “con người cũ” hiện nay ở các địa phương để quản lý? Làm sao trong một sớm một chiều có thể thay đổi những nếp nghĩ và thói quen của lối tư duy giáo điều bảo thủ vốn đã ăn sâu vào máu của không ít những người này…?
    Từ những vấn đề trên, tôi cho rằng, nếu không tính đến việc chọn người cầm trịch cũng như không có cái nhìn và kế hoạch đào tạo cán bộ quản lý giáo dục ở địa phương theo mục tiêu và định hướng của đề án “đổi mới toàn diện giáo dục” thì thực lòng mà nói (dù không bi quan) cá nhân tôi cho rằng khả năng thành công của đề án lần này là không cao.
    ***
    Tóm lại, có thể thấy muốn có “sản phẩm giáo dục” theo tinh thần “đổi mới” đương nhiên chúng ta phải xây dựng một đội ngũ giáo viên – những người trực tiếp đào tạo phải có tinh thần “đổi mới”. Mà muốn có đội ngũ giáo viên có tinh thần “đổi mới” nhất định phải có đội ngũ quản lý điều hành nền giáo dục có tinh thần “đổi mới”. Và như thế tất cả mọi vấn đề của công cuộc đổi mới giáo dục đều phải bắt đầu từ vấn đề con người; phải “đổi mới” từ vấn đề con người.
    ——————————————
    Ghi chú: Đây là một bài viết cũ, nhân bài viết của tác giả, người viết có bổ sung, chỉnh sửa lại cho phù hợp.

    Số lượt thích

    • Cảm ơn bác “Rất Là Buồn”, tôi cũng mong chúng ta có thể bàn luận một chút về “triết lý giáo dục”. Về “triết lý GD” của bác Hoàng Tụy, tôi cũng thấy như bác RLB, là thiếu phần về con người cá nhân. Nhưng tôi nghĩ là phải luôn nhấn mạnh cái mối liên hệ giữa cá nhân với cộng đồng nữa.

      Còn về “mục tiêu tổng quát” trong đề án của Bộ GD ( “Giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện, yêu gia đình, yêu Tổ quốc; có hiểu biết và kỹ năng cơ bản, khả năng sáng tạo để làm chủ bản thân, sống tốt và làm việc hiệu quả – thực học, thực nghiệp; phát triển tốt nhất tiềm năng của mỗi cá nhân; đóng góp tích cực vào sự phát triển của đất nước;”), thì tôi muốn sửa thành là “Giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện, quý trọng bản thân, yêu gia đình, yêu Tổ quốc, thương người, giàu lòng khoan dung…”.

      Số lượt thích

      • Nếu liệt kê ra tất cả những phẩm chất mà ta cần giáo dục để học sinh trở thành người tốt thì e phải có đến hàng trăm.
        Nhưng như thế chỉ thêm nặng gánh cho giáo dục mà thôi; và liệu ngành giáo dục có kham nổi những nhiệm vụ nặng nề đó không?

        Số lượt thích

  7. Tôi không chuộng ngoại, nhưng nền Giáo Dục của ta trước đây là học tập Liên-Xô. Nếu bây giờ lấy mô hình Giáo Dục của Anh, Pháp, Mỹ, Israel rồi ăn bớt đi (cải tiến). Tuy nền Giáo Dục đó không có cái chữ định hướng XHCN nhưng thấy còn hy vọng. Nói đổi mới tôi thấy lo thêm, vì đổi mới không có nghĩa là tốt hơn. Nói tốt khác với làm tốt.
    Một việc người ta đang làm trên đường phố Hà nội là, mỗi ngày đào lên một ít đường, rồi lấy đi những chiếc ống cống thời Pháp làm bằng kim loại đen bóng. Những chiếc ống tuổi đời hơn 100 năm vẫn còn tốt nguyên họ lấy mang đi dân nhìn mà tiếc. Thay vào đó là những ông bê tông vừa nhỏ vừa sứt sẹo. Lực lượng là mấy thanh niên không có chuyên môn nhặt ở chợ người, thi công vô cùng cẩu thả. Động cơ của họ là làm cho xong, vì tương lai lại…tiếp tục đổi mới.

    Số lượt thích

  8. Bạn Lan Hương, ý tốt của bạn, muốn có kết quả lớn lao với điều kiện còn hạn hẹp thì cũng là “mơ”. Chúng ta hạn chế mọi người kể cả giới tinh hoa như thế này,rẻ rúng những tinh tuý từ nội lực hoăc thâu nạp bên ngoài như thế nọ; tư duy cũ kỹ, sự cẩu thả, tạm bợ, gian manh lên ngôi…thì bạn cũng không nên mơ. Ví dụ, nếu hồi xưa mà đất đai sở hữu toàn dân, kinh tế thị trường định hướng XHCN…thì có xây nổi nhà hát Lớn HN đẹp đẽ hay là không? Hồi đó tư nhân sở hữu thì xã hội có được cái vô giá, bây giờ nhà nước chủ đạo thì có gì nên hồn? Thành thử chúng ta mong, khi còn thiếu, hiếm, chúng ta càng cần trọng vọng người tài, họ sáng tạo và mang sự chọn lọc vào cho bà con nhờ. Dân trí càng cao, đất nước càng phát triển và hội nhập thì ai cũng tinh hoa cả, người hơn hẳn ta gọi là đại TH…, và ta cũng tha hồ sánh vai các nước, việc học nn trở thành nhu cầu tự nhiên thôi. Thêm nữa, tôi nghĩ thời mà người Pháp có thể chưa học tiếng Anh thì người ta xây nhà thờ ĐBPR (Notre Dame) nghe đâu mất hơn 200 năm( chắc nhờ họ không có Nghị Quyết?), tương tự Kölner Dom ở Đức cũng có tg xây hơn 600 năm, nếu không có tự do sáng tạo, tôn thờ nhân văn thì những “kho tàng” có ra đời, tồn tại đến giờ cho ta chiêm ngưỡng hay không bạn? Vậy xin những người tiên phong giúp (rút ngắn và giảm thiểu) cho bà con nhờ. Xin lỗi lan man quá!

    Số lượt thích

    • Mời các bác đọc thử bài này ạ :
      http://news.zing.vn/Bon-thay-doi-lon-trong-giao-duc-Viet-Nam-sau-2015-post364694.html#detail_topview

      Tôi thì thấy khá ổn, nhưng việc thi tốt nghiệp PTTH chỉ có hai môn toán và văn làm tôi lo lắng, các bác thấy sao ạ? Tôi nghĩ là phải thêm môn ngoại ngữ nữa, tiếng Anh hoặc/ và tiếng Pháp.

      Cái comment này của bác Tín Văn nó làm tôi buồn rầu, tôi định trả lời mà chưa làm được. Bác có biết hồi xây cái tòa nhà thờ Đức bà Paris ấy, dân Pháp sống trong thời Trung cổ nghèo khổ mọi rợ tăm tối, Tòa án dị giáo của Giáo hội Thiên chúa giáo nó kinh khủng như thế nào không? Tiền của để xây thì do chiến tranh đi đánh giết nhau cướp về. Mà nhà thờ ấy cũng được trùng tu nhiều lần rồi. Vả lại hồi ấy dân Pháp cũng vẫn dùng hai thứ tiếng là tiếng Pháp và tiếng latin đấy. Chừng nào các bác còn chưa thấy được tầm quan trọng của ngoại ngữ là các bác vẫn còn chưa thực sự đổi mới đâu. Ngoại ngữ, hơn là một ngôn ngữ, đem đến cho ta sự cọ xát đối chiếu giữa hai nền văn hóa với những giá trị rất khác biệt, nó bắt buộc ta phải mở mang tư tưởng đề mà khoan dung hơn, chấp nhận sự khác biệt và từ đó nhìn ra những giá trị phổ quát.

      Số lượt thích

      • Tôi rất thích Thuyết Á Luận, hôm qua viết vội vài ý để chuẩn bị đi miền núi một đôi tuần, không may dở, sai chính tả…Mong các bác, bà con bỏ quá cho. TAL thì cũ rồi nhưng tôi cứ thấy tinh thần của nó mạnh, rất đặc biệt, rất “gốc rễ”… Nhân đây, xin khẳng định tôi đồng tình bạn LH về khuyến khích ngoại ngữ, quan trọng lắm,và không chỉ Pháp,Anh,Trung…,phải học cả tiếng dân tộc thiểu số thân yêu, tiếng láng giềng gần gũi như Tiếng Lào(Thai), Tiếng CPC nữa…Tại sao không?
        Nhưng bạn ơi, số đông dân ta, nông thôn, miền núi khó tiếp cận NN lắm. Theo tôi, biện pháp ít nhất là: chống bất bình đẳng trong giáo dục. Bạn thấy chưa cụ thể? Như đã biết, chúng ta quá ưu tiên cho TP lớn, ví dụ, nguồn lực, đặc quyền, thương hiệu, chính sách, lương bổng, thương hiệu, thương quyền, cơ hội…dồn mạnh về Thủ Đô. Rồi thủ đô còn muốn bòn rút nốt cái “Trường CLC” đó! Cho nên, đặt ra mức tối thiểu về NN thôi (nói chung), có thể bắt buộc hoặc theo đăng ký kèm điều kiện riêng cho từng nơi,ai học được hơn thì khuyến khích, và phải dùng những chính sách khuyến khích đặc biệt hơn cho NN và mọi thứ để ưu tiên tăng cơ hội, đầu tư, giáo viên… cho các tỉnh khó khăn và vùng núi. Phải có luật để chống bất bình đẳng nữa. Nhưng cái gốc của bất khả là sự “ngu muội”, tham lam, vô cảm từ giới LĐ, tức là chúng ta chưa vượt lên khỏi cái chủ quan,ý chí của con người. Có thể TS TND không muốn nói đến “gốc của gốc”?
        Nếu bạn LH vẫn nghĩ là “hiếm, thiếu…” thì đành phải kêu gọi giới “tinh hoa” như tôi đã nói. Xin cảm ơn và chào tạm biệt!

        Số lượt thích

  9. Tôi có thêm một ý tưởng. Cái động lực khiến ta muốn cải tổ giáo dục là sự Công Bằng Xã Hội. Nhưng mà làm sao biết được công bằng xã hội nó nằm ở chỗ nào. Trong truyện Aesop, con sư tử chia phần là nó lấy hết, cả đầu lẫn đuôi.

    Ở đây, khi còn bé, nhà trường dạy học sinh phải biết nói cám ơn và xin lỗi. Khi lớn lên, họ lại dậy, trong luật pháp bạn không được nói sorry, mà phải để cho luật sư làm việc. Chính vì thế, Mỹ không bao giờ lên tiếng xin lỗi dân tộc VN (theo tôi nghĩ, đáng lẽ họ phải làm vậy) về cái gọi là “chiến tranh Việt Nam” không phải do dân miền Nam hay miền Bắc gây ra. Mà cứ để lửng lơ như vậy, ai muốn nói sao thì nói.

    Về công bằng xã hội thì nói chẳng bao giờ cùng. Chính nước Mỹ đang rối lên vì cái vụ Obamacare (y tế cho toàn dân). Nói cách khác, không cải tổ thì chương trình giáo dục VN cũng có đó. Không cải tổ về bảo hiểm sức khỏe, thì các chương trình y tế Hoa Kỳ cũng đang chạy đều.

    Khổng Tử dạy cách cai trị dân. Đó là việc chính trị. Chính trị thì luôn có cái lắt léo của nó. Chúng ta nói về giáo dục, về xã hội. Đó là cái đạo. Đạo luôn luôn phải là sự hòa hợp. Là, Ý dân ý trời. Là, quy luật tự nó tìm đường mà đi. Là, sự thay đổi mỗi thời mỗi khác. Là, ta xong việc chẳng xong.

    Số lượt thích

    • Bài viết này của bác, không hiểu sao lại làm em liên tưởng tới “Chiến dịch phản công biên giới Tây-Nam Việt Nam”. Theo đài và TV của ta đưa tin, người dân Campuchia biết ơn bộ đội VN. Có lẽ nước Mỹ có tư duy gần với cách tư duy trong bài giảng về Công Lý (Công Bằng) một vị GS đã giảng tại Harvard University, nên họ sợ thứ đối phương không sợ?
      Đông Dương là những nước nhỏ lại nghèo, tiềm lực kinh tế và quân sự vốn không thể làm nên cuộc chiến tranh, nếu không nhận sự giúp đỡ từ bên ngoài.
      Những thế hệ được Giáo Dục đúng đắn, hiểu biết, có một niềm tin vào lẽ phải, vào tương lai sẽ là sức mạnh của Dân Tộc. Ngày nay Thanh niên và người có tuổi như lạc phương hướng. Gần đây một loạt vụ án gây xôn xao dư luận, thấy có nhiều ý kiến đưa ra cùng chọn một giải pháp là… cái chết (tử hình) và họ coi đó là giải pháp cho vấn đề. Giải pháp càng bạo lực thì càng gần với thần chiến tranh mà chiến tranh là ngu dốt, là nghèo đói, là hủy diệt.
      Ông bà người Việt xưa có câu ” Quan nhất thời, dân vạn đại” một bài học được đúc kết có sáu câu vừa dễ nhớ, vừa lâu quên nếu càng ngẫm nghĩ thì càng hiểu thêm. Không biết bên Mỹ họ có câu nào tương tự không thưa bác? Rõ ràng là hiểu vài câu ngắn còn hơn quên một bài dài. Mười hai năm học dài mà quên thì làm sao bằng vài ba năm học đúng. Nếu dạy mau quên chỉ là vấn đề “kinh tế giáo dục” thì còn có hy vọng cứu chữa. Nhưng nếu coi đó là mục đích Giáo Dục thì…

      Số lượt thích

      • Cám ơn anh namviet đã chia xẻ.

        Lúc đầu tôi thích các môn toán và khoa học tự nhiên. Dần dần, có dịp, tôi thích cả Việt, Anh văn và lịch sử. Khi đọc các sách giáo khoa trong trường, tôi tò mò, lật xem các phần về VN, dĩ nhiên, được viết dưới cái nhìn từ phương Tây. Tôi rất khích lệ, khi thấy chính phủ cho phép sự thật được trải ra, thầy giáo dám trình bầy sự thật, học sinh dám tìm hiểu và thấm nhuần sự thật. Và từ đó, dân chúng thay đổi thái độ với Việt Nam, cả Bắc lẫn Nam.

        Tôi nhớ, 1975, khi mới sang đây, trừ những người trực tiếp giúp mình, còn dân chúng, cách chung, nhìn chúng tôi với thái độ hằn học: vì chúng tôi mà nước Mỹ phải trải qua những cơn sóng gió về chính trị và kinh tế (?). Họ cho rằng, dân miền Nam là những đứa hèn nhát, bỏ chạy, một lũ ăn hại. Dân miền Bắc là những đứa kiêu binh, tàn ác. Chính chúng tôi, mặc cảm, tự trách mình, tự trách những nhà lãnh đạo của mình, sao hành động như vậy.

        Thế rồi, từ từ, lịch sử được viết lại. Sự thật được phơi bầy. Dân chúng đã thay đổi thái độ. Và con em chúng ta đã nhập cuộc. Văn hóa biến dạng. Mọi người hiểu nhau hơn. Đau khổ và kiên trì đã làm nên giá trị cho người Việt Nam. Tôi nhận ra rằng:
        Khi chiến tranh chấm dứt,
        Chẳng còn ai kẻ thù,
        Còn lại tình đồng loại,
        Trong nỗi nhớ thiên thu…

        Nói về luật pháp, không ai dám nói về cái phải cái trái của chiến tranh. Nhưng bên trong là tình cảm con người, người Mỹ cảm nhận được, tại sao có cuộc chiến đó. Và nó ảnh hưởng thế nào đến dân Mỹ và dân Việt Nam.

        Tóm lại, chúng ta nên cải tổ giáo dục, vì giáo dục có thể thay đổi được con người. Từ giáo dục tốt, có lẽ, chúng ta sẽ hiểu nhau hơn, thông cảm nhau hơn, và thế giới vui hơn. Nói chung, nhờ giáo dục, dân Mỹ đã trở thành nhân đạo và rộng lượng. Nhưng chính sách của nước Mỹ thì luôn bị chi phối bởi quyền lợi phe phái, mà chính hiến pháp cho phép như vậy.

        Số lượt thích

      • Cảm ơn bác Phan Như Huyên đã chia sẻ ý kiến ạ. Bài của bác giúp cháu hiểu thêm những gian khổ và tâm tư của đồng bào Việt nam trên quê hương cũng như ở hải ngoại.

        Số lượt thích

    • Tôi đồng ý với ý kiến của anh Phan như Huyên. Giáo dục là dạy đạo làm người, và đã là thế thì không phụ thuộc vào chính trị. Vì thế, khi giáo dục có những vấn đề thì ngoài yếu tố ngoại cảnh, yếu tố nội tại là quan trọng. Ta không có sức để thay đổi ngoại cảnh, nhưng ta có thể thay đổi nội tại.

      Tôi cũng rất chia sẻ với anh Huyên về tâm tư của những người dân miền Nam. Tôi là đứa trẻ từ miền Bắc vào Đà Nẵng năm 1978. Bạn bè tôi đều là dân miền Nam, với nhiều hoàn cảnh khác nhau. Nhưng bọn tôi vẫn chơi thân với nhau, vẫn là bạn bè cho đến bây giờ. Không có ranh giới Bắc-Nam. Không có bên thắng cuộc hay bên thua cuộc.

      Số lượt thích

  10. Ý kiến của tác giả Trần Nam Dũng đúng và hay, nhưng không có gì mới cả. Rất nhiều người đã nói như thế từ lâu rồi. Tôi đây, một kẻ thảo dân chỉ học xong trung học, cũng từng nghĩ như thế, từng đọc đâu đó trên báo những ý kiến như thế.
    Nhưng điều mấu chốt là làm sao để thực hiện được những việc mà ai cũng thấy cần phải làm đó, thì không thấy tác giả Trần Nam Dũng nêu ra.

    Trước kia tôi từng suy nghĩ như tác giả Trần Nam Dũng. Nhưng mươi năm trở lại đây, tôi đã nghi ngờ chính mình và đã nghĩ khác.
    Theo tôi, cái gốc của giáo dục chính là ở chỗ phải xác định cho đúng mục tiêu của nó. Tức là phải trả lời cho đúng câu hỏi: con người mà giáo dục muốn tạo ra là con người như thế nào, là con người công cụ để người khác sai khiến, hay là con người tự do, sáng tạo, biết tự phát hiện vấn đề, tự giải quyết vấn đề chứ không ngồi đợi người khác ra lệnh hay cầm tay chỉ việc?
    Việc trả lời câu hỏi này sẽ chi phối tất cả những yếu tố còn lại của nền giáo dục, như nội dung, phương pháp, nhân sự, hoạt động, tổ chức v.v.

    Số lượt thích

  11. Mục đích của giáo dục là tạo điều kiện để người học tiếp cận với lao động có chất lượng tốt hơn, với công ăn việc làm tốt hơn. Tạo cho người học có năng lực để làm chủ mình, để thực hiện quyền và nghĩa vụ yêu nước của mình. Chúng ta không nên quá lạc quan với trọng trách mà Đảng, nhà nước và nhân dân kỳ vọng đặt trong tay chúng ta thế hệ tuổi vàng mang tính định mênh của dân tộc. Cần phải phân tích những yếu điểm của lao động nước ta và đưa ra các tiêu chí định lượng cho đổi mới giáo dục. Trên cơ sở đó thiết kế và xây dựng một chương trình đổi mới phù hợp với sự phát triển của cơ sở vật chất văn hóa xã hội của đất nước.
    Chất lượng lao động quyết định sinh mệnh của mỗi quốc gia. Chất lượng lao động phụ thuộc vào y học lao động, tri thức lao động, kỹ năng lao động và văn hóa lao động.
    Về y học lao động bao gồm sinh lý lao động và tâm lý lao động. Mấy chục năm đổi mới nhưng chúng ta vẫn chưa dạy cho học sinh biết ngồi để bảo vệ sức khỏe, biết ngồi thế nào để lao động tốt. Tư thế ngồi chuẩn không những ngăn ngừa bệnh học đường mà còn làm cho tâm sinh lý, tầm vóc con người Việt Nam phát triển. Cơ thể cân đối, cường tráng, tinh thần tự tin, lạc quan, tư duy sáng sũa. Nhà trường đang thiếu chỗ cho học sinh thực hiện các hoạt động văn thể, trong khi đó các nhà thi đấu, các sân vận động, các nhà hát, các nhà văn hóa, rạp chiếu phim… thì sử dụng chưa hiệu quả. Không có chỗ sinh hoạt lành mạnh thì dễ nảy sinh bạo lực, vi phạm trật tự an ninh.
    Về kỹ năng lao động, trang thiết bị cơ sở vật chất, bàn ghế là thiết bị quan trọng nhất là công cụ của nhận thức, là người thầy tham gia giáo dục hành vi. Vừa qua Bộ đã chủ động xây dựng thông tư liên tịch 26/2011/TTLT-BGDĐT-BKHCN-BYT. Đó là một quyết tâm rất lớn của Bộ, nhưng qua khảo sát của 3 bộ tại các thành phố Đà Nẵng, Hồ Chí Minh, Hải Phòng và các tỉnh Lạng Sơn, Thái Bình, Cà Mâu sau khi thông tư liên tịch có hiệu lực, thì yêu cầu thực tiển cần Bộ đưa ra một mẫu chuẩn bàn ghế và tư thê ngồi chuẩn cụ thể. Bộ cần có chỉ đạo quyết liệt hơn để giải quyết vấn đề này. Cơ sở vật chất cần kết hợp với cơ sở sản xuất, các viện nghiên cứu để tiết kiệm đầu tư và bố trí mạng lưới thử nghiệm cho hợp lý. Nhưng đầu tư vừa qua lãng phí và chưa hợp lý. Ví dụ một thí nghiệm đo nước sôi, khi kết quả không đạt 100C, cô giáo kết luận nhiệt kế sai. Chắc chắn không ít người kết luận như vậy. Mục đích thí nghiệm như vậy không đưa lại điều gì. Chúng ta đầu tư cho các trường phòng thí nghiệm bộ môn là không hợp lý và gây hệ lụy, vì chỉ cần thiểu một hóa chất là toàn bộ đắp chiếu. Thứ đến là các trường nằm xen trong khu dân cư sẽ gây ô nhiểm khó xử lý. Các phòng thí nghiệm phải đặt tại các công ty, các trường và các trung tâm dạy nghề để học sinh và thầy cô giáo về đấy thực tập. Cho nên các trường nghề và trung tâm dạy ngề phải trực thuộc một đầu mối về bộ GD&ĐT. Vì vậy đổi mới giáo dục không thể bỏ qua sự đổi mới về kết cấu hạ tầng của xã hội.
    Về tri thức lao động. Tri thức lao động rất rộng, sự hiểu biết con người có hạn. Việc này tùy thuộc vào nhu cầu phát triển của các tổ chức kinh tế xã hội. Việc này để cho người học tự lựa chọn, phụ thuộc vào năng lực sở trường và cơ hội tìm việc của mình. Người học có thể học qua tài liệu sách vở, qua mạng thông tin, qua trao đổi bạn bè…, hoặc theo học một chuyên ngành nào đó mà họ thấy cần thiết. Chúng ta không nên kỳ vọng quá nhiều vào sự đáp ứng của một giáo trình chuẩn. Giáo trình chuẩn chỉ trang bị các công cụ và phương pháp tiếp cận cần thiết thỏa mãn sự đồng đều cho người học các vùng miền. Các nhà xuất bản, các trung tâm đào tạo, các nhà khoa học, các nhà giáo có thể đưa ra các giáo trình của mình để cho người học lựa chọn thông qua kênh truyền thông. Nhằm xã hội hóa vấn đề giáo dục đào tạo, tránh ép đào tạo rồi tạo ra thất nghiệp. Về giáo trình cần nghiêm cứu nền giáo dục miền nam trước đây.
    Về văn hóa lao động. Lao động chúng ta khó tiếp cận với khu vực và thé giới là do sự khác biệt về văn hóa lao động. Trong đó trở ngại lớn nhất là ngoại ngữ, tính tổ chức, kỹ luật, tính chính xác, tính hoàn hão. Tôi nhớ câu nói của cựu tổng thống Mỹ Bill Clinton với sinh viên đại học Quốc gia:”Mỹ và Việt nam biết nhau hơn 200 năm, nhưng chưa đến được với nhau do hai nền văn hóa khác nhau”. Rõ ràng họ rất muốn làm ăn với ta, chúng ta hãy tìm ra cái khác biệt để điều chỉnh, để hội nhập. Nếu suy ngẫm kỹ thì thấy, các nghề nghiệp chúng ta đều chưa chuyên nghiệp. Cứ đi làm cách mạng rồi lên thôi. Chúng ta đưa ra các tiêu chí trên mây, nào đào tạo 01 triệu lập trình viên quốc tế, nào biến lớp học thành rạp chiếu phim… Không phải người có tri thức lao động cao mới có văn hóa lao động. Nghề osin cũng phải có văn hóa lao động, Thực tế cho thấy osin làm khó cho nhiều gia đình vì thiếu kỹ luật và kỹ năng cần thiết. Nhiều công nhân thiếu kỹ luật lao động làm nản lòng nhà đầu tư. Nghề dạy học cũng phải có văn hóa dạy học. Nhà sản xuất thiết bị cũng phải có văn hóa sản xuất. Nhà xuất bản cũng phải có văn hóa xuất bản, đừng để tình trạng sách không ra sách vở không ra vở. Nhà lãnh đạo cũng có văn hóa lãnh đạo. Lãnh đạo cũng lao động cũng là một nghề. Rõ ràng đổi mới giáo dục không chỉ đơn giản đổi mới giáo trình, đổi mới phương pháp tổ chức thi cử, mà phải đổi mới văn hóa lễ hội, đừng biến văn hóa tâm linh thành văn hóa bon chen, phải đổi mới phương thức lãnh đạo, đổi mới thể chế. Phải đổi mới sự vô cảm của xã hội. Đó mới xứng tầm là một trận đánh lớn, là một cuộc cách mạng. Nếu không chúng ta chỉ gải ghẻ, và còn gải nhầm vào thế hệ tuổi vàng của chúng ta.
    Nghị quyết số 29-MQTW của ban chấp hành trung ương khóa XI về đổi mới giáo dục và đào tạo là một quyết định sáng suốt, thể hiện sự quyết tâm của Đảng vì thời cơ thế hệ tuổi vàng của dân tộc. Đây là một cơ hội, nhưng cũng đầy thách thức đòi hỏi toàn bộ hệ thống chính trị, các nhà khoa học, các nhà chuyên môn hãy tham gia đóng góp, tư vấn cho Đảng và chính phủ những việc làm cụ thể, thiết thực cho chương trình đổi mới thắng lợi.

    Số lượt thích

  12. Một bài viết thật hay…xin cảm ơn thầy.

    Số lượt thích

  13. Ông cha ta đã dạy:

    – Không thày đố mày làm nên.
    – Giỏ nhà ai quai nhà nấy.
    – Rau nào sâu nấy.
    – Con nhà tông không giống lông cũng giống cánh.

    Bản chất con người là bắt chước thần tượng qua neuron phản chiếu.
    Thầy giáo chính là thần tượng quan trọng nhất của người học.

    Thầy giáo – Tạo gương. Học trò nhìn vào gương và có thể biến thành sư tử hay chuột chũi.

    Số lượt thích

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Nhập địa chỉ email để nhận thông báo có bài mới từ Học Thế Nào.

%d bloggers like this: