How We Learn

Học “định” để được “tuệ” trên ghế nhà trường – Cao Huy Thuần

Học “định” để được “tuệ”

Tôi mượn hai chữ “định” và “tuệ” trong Phật giáo để nói với các em một câu chuyện nhỏ. Xin các bậc phụ huynh đừng sợ tôi đưa các em vào thế giới tương chao hoặc vào triết lý cao xa. “Định” và “tuệ” là những chuyện hiển nhiên trước mắt, là kinh nghiệm thường xuyên của các em từ khi bước vào nhà trường, ngay cả trước đó nữa. Các em có học gì khác đâu? Học “định” để được “tuệ”, đơn giản chỉ có thế. Đây là chuyện giáo dục sơ đẳng, không phải chuyện lý thuyết viển vông trên chốn đâu đâu.

Hãy nhìn em bé cắn bút trước một bài toán cộng trừ. Em đang luyện tập trí óc. Mồ hôi em không chảy như người chạy bộ để luyện tập thân thể, nhưng công phu tập luyện nào ai kém ai? Sinh ra, em đã có đủ mọi khả năng để biết, nhưng mọi khả năng đều ở trong trạng thái tiềm tàng. Tập luyện, tập luyện từng phút từng giờ, để phát triển những khả năng tiềm tàng ấy thành hiện thực, đó là công việc của giáo dục.

Đánh vần, tập đọc, học thuộc lòng, cộng trừ nhân chia… tri thức nẩy nở dần, ký ức nẩy nở song song, mỗi bước tiến của tri thức dựa trên mỗi bước tiến của trí nhớ, ký ức này phát triển trên ký ức kia, cứ thế trí nhớ tích tụ cả một kho tàng ký ức, để sàng lọc, để lựa chọn, để lấy ra tri thức nào đáp ứng đúng cho mỗi tình huống, mỗi hoàn cảnh, mỗi giải đố. Có ai thấy mồ hôi toát ra trong đầu em bé đâu? Nhưng cứ thế, em trưởng thành, hôm qua bập bẹ chữ cái, hôm nay đọc sách làu làu. Bao nhiêu khổ công thầm lặng!

Bài học đầu tiên: Sự chú ý

Em tập luyện cái gì trước hết? Chú ý. Không chú ý thì không bao giờ đầu óc em bé trưởng thành, dù chỉ một bước. Ngôn ngữ Phật giáo gọi là “định”. “Định” là cố gắng đầu tiên, cho nên là căn bản. Là căn bản, cho nên cũng là khó nhất. Khó nhất cho em bé mà cũng khó nhất cho người lớn. Bởi vì người lớn sinh ra từ em bé!

Hãy xem em bé chơi: tay nắm đồ chơi này rồi vứt, nắm đồ chơi khác rồi vứt, loăng quăng không ngừng. Đến tuổi vào lớp, đố bé nào chăm chú được một cái gì trong vài phút. Có cha mẹ nào không than vãn: con tôi không ngồi yên, hết la hét thì cãi lộn, chọc ghẹo.

Cháu tôi, tám tuổi, làm bài luận tả cây chuối, đã xuống hàng với một câu kết luận bất hủ: “Em rất thích cây xoài”. Cháu chỉ có thể tập trung chú ý trên cây chuối trong mười câu, đến câu cuối thì cây chuối bay mất trong đầu, cây xoài ngang nhiên chiếm cứ.

Trên ghế nhà trường, sự chú ý của em bé rất phức tạp. Trí óc em phải liên hệ nhiều yếu tố khác nhau để nối kết chúng với nhau thế nào cho hợp lý nhất. Nếu không chú ý, em sẽ không tìm ra được mối liên hệ, mà không tìm được thì kết quả sẽ vô cùng tai hại cho tri thức, bởi vì dẫn đến lầm lẫn. Nhưng nếu lầm lẫn mà biết lầm lẫn thì đó lại là một bước tiến khác của chú ý, đưa đến việc tìm ra được đâu là đầu mối của lầm lẫn để lần sau tránh một lầm lẫn tương tự.

Cứ thế, từng bước, từng bước, từ bài toán đến bài văn, giáo dục ở nhà trường về tập trung chú ý mở ra cho em bé cánh cửa của tư tưởng. Ánh sáng đó, thuật ngữ Phật giáo gọi là “tuệ”. Như ngọn đèn đuổi tăm tối ra khỏi gian phòng, “tuệ” đuổi lầm lẫn ra khỏi trí óc. Biết thế nào là đúng thế nào là sai, tư tưởng của em bé nẩy nở.

Học toán, em dễ hiểu hơn thế nào là lầm lẫn. Hai chiếc xe lửa, chiếc trước chiếc sau, hoặc chạy ngược nhau, để cùng đến một nhà ga. Em phải tính toán vận tốc thế nào để chiếc này chiếc kia êm ru đến trước nhà ga an toàn. Tính đúng, hành khách bước xuống xe vui vẻ. Tính sai, xe cứu thương phóng đến ào ào. Học văn, đúng sai khó biết hơn, nhất là lúc lên cao, em học sinh bước vào lĩnh vực thưởng thức thơ. Nhưng dù toán hay văn, chú ý đều phải tập trung từ những chi tiết nhỏ nhất, bởi vì sai một ly đi một dặm.

Bài học từ… cái dấu phẩy

Ví dụ một chi tiết nhỏ nhất trong văn: cái dấu phẩy. Hèn mọn thế đấy, các em ạ, vậy mà cái dấu phẩy dạy cho các em bài học chú ý thường xuyên mà nếu không vận dụng cho tinh, hoặc là tư tưởng của em sẽ chạy bậy, lộn tùng phèo, hoặc là em không diễn tả được tư tưởng rõ ràng cho người khác hiểu. Tôi nhớ câu văn sau đây mà thế hệ chúng tôi học thuộc lòng vì nằm trong một bài văn in trong sách giáo khoa, câu văn của Nguyễn Bá Học:

“Đường đi khó, không khó vì ngăn sông cách núi, mà khó vì lòng người ngại núi e sông”.

Tôi không nói đùa: bao nhiêu đồng chí đồng môn của tôi hồi mười tuổi không hiểu nổi câu văn chỉ vì ê a đọc một mạch như đọc kinh, không chú ý đến hai cái dấu phẩy. Ê a như vậy, câu văn nghe như thế này: đường đi khó không khó mà khó… Con đường gì mà kỳ quái vậy, khó không khó mà khó là cái làm sao? Loạn xà ngầu, tư tưởng không tìm ra được manh mối, tối om như nhà không đèn. Chú ý đến hai cái dấu phẩy, ánh sáng mở toang! Nhà Phật nói: “định” mở cửa cho “tuệ”.

Sách báo ngày nay xem chừng không mấy chú ý đến cái dấu phẩy hèn mọn, nhưng dân gian thì có chú ý đấy. Biết đâu thầy giáo tài hoa nhất của các em là tấm bảng khẩu hiệu to tướng mà tôi đọc được trên một ngã tư lớn của thành phố: “Gia đình hai con vợ chồng hạnh phúc”. Bàn tay vô hình nào đó đã phẩy một dấu phẩy hùng hồn sau chữ “vợ”, biến hạnh phúc chung của đôi vợ chồng gương mẫu thành hạnh phúc riêng tư, kín đáo, của một đức ông chồng trịch thượng thời hoàng kim phong kiến đa thê. Một cái dấu phẩy, nghìn trùng xa cách!

Đó là những cái dấu phẩy hữu hình. Đi vào thưởng thức thơ, em học sinh còn phải biết chú ý đến những dấu phẩy vô hình mà em tự mình khám phá ra để thấy câu thơ hay hơn, tưởng tượng bay cao hơn, tư tưởng chính xác hơn. Chẳng hạn câu này trong Kiều, diễn tả nỗi lòng của Thúy Kiều trong đêm vắng, trước giờ bán mình chuộc cha:

Một mình âm ỷ đêm chầy
Đĩa dầu vơi nước mắt đầy năm canh.

Một mình bên đèn, Kiều thức suốt sáng. Nàng khóc. Trong khuya vắng, tất cả đều câm lặng, chỉ còn hai hình ảnh có hồn: đĩa dầu và nước mắt – nước mắt là nhân vật chính, đĩa dầu là chứng nhân. Đĩa dầu vơi dần, nỗi khổ đầy dần, như thử cái vơi của bên này tràn qua cái đầy của bên kia. Câu thơ hay ở cách đối chọi giữa hai chữ “vơi” và “đầy”. Câu thơ còn hay ở cách ngắt câu, ngắt ở “vơi” và ngắt ở “đầy”, khác với cách ngắt thông thường trong thể lục bát. Đọc câu thơ mà không biết ngắt như vậy, cái thần của câu thơ sẽ biến mất, hình ảnh vơi đầy mờ nhạt, tưởng tượng nghèo đi, rung động không đến. Phải đọc: Đĩa dầu vơi / nước mắt đầy / năm canh.

Đó là hai dấu phẩy vô hình làm nẩy nở khiếu thưởng thức thơ nơi em học sinh lớp mười, mười một.

Cũng vậy, với khả năng chú ý phát triển dần dần, em có thể khám phá ra một sự lạ lùng kỳ diệu trong bài “Tiếng thu” của Lưu Trọng Lư, và sẽ thấy tại sao bài thơ hay đến thế. Đây là bài thơ nổi tiếng:

Em không nghe mùa thu
Dưới trăng mờ thổn thức?
Em không nghe rạo rực
Hình ảnh kẻ chinh phu
Trong lòng người cô phụ?
Em không nghe rừng thu
Lá thu kêu xào xạc
Con nai vàng ngơ ngác
Đạp trên lá vàng khô?

Ngoài âm điệu, ngoài hình ảnh, ngoài cảm giác mà bài thơ gợi lên trong tâm hồn người đọc, em học sinh có thể tự hỏi: tại sao “Em không nghe” mà không phải “Em nghe không”? Nếu ví thử tác giả viết “Em nghe không”, thì thi tứ của bài thơ sẽ bay đi hết. “Em nghe không” chỉ là một câu hỏi. “Em không nghe” là cả một trời tưởng tượng.

Tưởng tượng nhà thơ đang thủ thỉ với bạn: lắng nghe, em, lắng nghe những hình ảnh, những âm thanh, những rung động sâu kín nhất, mong manh nhất, huyền ảo nhất của mùa thơ mộng nhất… Em không nghe? Nghe rõ hơn nữa đi, nghe rõ tự trong lòng, kìa trăng, kìa lá, kìa nai, kìa xôn xao thi tứ… em không nghe?…

Cùng với bạn của nhà thơ, em học sinh bị lôi cuốn vào chú ý, vào “định”, để nhập vào bài thơ, vì với một bài thơ chứa chan cảm giác như vậy, không nhập vào thơ thì không thấy hay đâu cả, không thấy mùa thu, không mở được “tuệ”.

Chưa hết, em học sinh còn có thể chú ý vào cấu trúc của bài thơ và khi đó mới thấy cái thần diệu của ngôn ngữ, mới thấm thía thi vị của một dấu hỏi, của cách ngắt bài thơ tài tình sau hai câu, rồi sau ba câu, rồi sau bốn câu. Hiếm có một bài thơ ngắt quãng thần kỳ như thế. Dấu hỏi sau hai câu, rồi dấu hỏi sau ba câu, rồi dấu hỏi sau bốn câu.

Tuồng như nói xong hai câu, người bạn lơ đãng vẫn chưa nghe được, phải nói ba câu để chú ý hơn; ba câu vẫn chưa hiệu quả, phải bốn câu… Bốn câu, người bạn hình như vẫn chưa nghe thấy gì vì bài thơ tận cùng bằng một dấu hỏi.

Nhưng đó mới chính là “tiếng thu”. Bởi vì chẳng có cái gì là thực trong bài thơ cả. Đố ai biết “trăng thổn thức” là trăng thế nào, đố ai thấy “chinh phu”, “cô phụ” ngoài cổ thi, mấy ai ở thành phố như bạn của nhà thơ mà thấy được nai vàng nai đỏ?

Vậy mà hãy nghe kỹ trong lòng: có đấy, có tiếng thổn thức của trăng, có tiếng rạo rực của vợ nhớ chồng, có tiếng xào xạc của lá khô. “Tiếng thu” ấy chỉ có ở trong lòng vì mùa thu đích thực là mùa thu ở trong lòng.

Mùa thu là cảm giác về thu, ấn tượng về thu, mông lung, huyền ảo, không nói nên lời, cho nên bài thơ toàn là dấu hỏi, chấm dứt bằng dấu hỏi, mỗi dấu hỏi là mỗi vỗ cánh bay vào tưởng tượng. Ai dám nói thưởng thức thơ không đòi hỏi chú ý?

Chú ý còn làm phát triển ký ức. Không chú ý, đố em học sinh nào học thuộc được bốn câu thơ. Nếu sau này em thành kịch sĩ, không chú ý, đố em học thuộc được một vở tuồng. Định tâm và ký ức gặp nhau, nâng đỡ nhau, làm sáng lên tư tưởng. “Tuệ” mở ra.

“Tuệ” mở ra khả năng lý luận

Nơi em học sinh, “tuệ” đó là khả năng lý luận. Trên ghế nhà trường, không lúc nào em không ứng dụng khả năng lý luận. Mỗi ngày tôi để dành được hai đồng, vậy trong mười ngày tôi để dành được hai mươi đồng.

Từ những lý luận đơn giản, cụ thể như vậy của bài toán đố, em đi dần vào những lý luận trừu tượng. Thực sự, không lý luận nào là không trừu tượng: em đâu cầm 20 đồng trong tay; 20 đồng ấy chỉ có trong cái đầu, nhưng em biết đó là điều chắc chắn, hiển nhiên, không cần đếm.

Em đi dần vào lý luận trừu tượng như vậy với đôi chân luôn luôn bước trên ký ức, ký ức học được ở trường, ký ức học qua sách truyện, lắm khi ký ức bâng quơ, học đâu đấy, tưởng chừng vô dụng, vô bổ.

Hình ảnh của cái cân chẳng hạn, hình ảnh con sư tử, hình ảnh con ó nắm trong chân này bó tên, trong chân kia nhánh ô liu… nếu chỉ là hình ảnh suông, không có ký ức hỗ trợ, thì tư tưởng dẫm chân tại chỗ, nhưng nếu có học đâu đó chút kiến thức, thì tư tưởng về bình đẳng, về sức mạnh, về hòa bình, chiến tranh – toàn là những khái niệm trừu tượng – trỗi lên trong óc.

Càng học cao, càng thu thập kiến thức, lý luận của em học sinh càng xông trận, trận chiến của những tư tưởng đồng và bất đồng, về chính những vấn đề mà hôm qua em chỉ mới nạp nhưng chưa suy: chiến tranh, hòa bình, sức mạnh, bình đẳng.

Tiếp cận với ý tưởng của người khác, tiếp cận với dư luận, tiếp cận với tuyên truyền, tiếp cận với những biến cố xảy ra trong lịch sử hay trước mắt, em học sinh, nhờ kiến thức tích lũy, sẽ vận dụng chú ý soi vào suy luận để tìm ra cho được phán đoán riêng của mình. Một nền giáo dục xứng đáng với tên gọi ấy là nền giáo dục biết phát triển phán đoán riêng của mỗi học sinh, xem đó như là cứu cánh.

“Cái gì suy nghĩ phân minh, cái ấy phát biểu rõ ràng”

Đó là nói chuyện cái đầu. Tư tưởng đâu có nằm mãi trong ấy. Tư tưởng đâu có chịu bị cầm tù! Trước sau gì nó cũng phát ra, hoặc bằng miệng, hoặc bằng ngòi bút. Ở đây cũng vậy, “định” vẫn là căn bản. Bút sa gà chết, thói cẩn thận ấy, người cầm bút ở xã hội ta đã biết tận xương tủy. Cái miệng cũng vậy, “nhất ngôn ký xuất tứ mã nan truy”, các cụ đã dạy. Tôi miễn nói chuyện đó, tôi nói chuyện khác.

Tôi nói về cách phát biểu, phát biểu thế nào cho rõ ràng, chính xác, mạch lạc một tư tưởng cũng chính xác, mạch lạc. Sinh viên của tôi ở đây sợ nhất môn thi “giải thích và bình luận một bài viết” trước một đoàn giám khảo.

Không những các bạn ấy phải tập trung chú ý cao độ trên từng dấu phẩy, từng chữ, từng câu để hiểu, mà còn phải nói gọn gàng, trôi chảy, khúc chiết, phân minh, trả lời những câu hỏi cũng phân minh, khúc chiết, trôi chảy, gọn gàng. Chỉ cần nghe anh sinh viên nói, biết ngay đầu óc của anh.

Tuyển chọn giáo chức, tuyển chọn nhân viên trong các xí nghiệp cũng vậy. Không ai thấy được cái gì trong đầu người khác. Mà thấy! Thấy qua lời nói. Thấy qua câu văn.

Thi hào Boileau của Pháp nói một câu giản dị mà tuyệt cú: “Cái gì suy nghĩ phân minh, cái ấy phát biểu rõ ràng” (“ce qui se conçoit bien s”énonce clairement”). Bởi vậy, mỗi khi bạn đọc cái gì mà thấy tối tăm mù mịt, khoan nghĩ rằng mình dốt, có thể người viết là lang băm.

Câu thơ nói trên của Boileau nằm trong một bài thơ dài nói về mối quan hệ khắng khít giữa tư tưởng và lời văn. Tôi dịch ra sau đây ba câu thường được xem như kim chỉ nam của bất cứ ai viết :

Viết đi viết lại hai mươi lần một tác phẩm
Mài dũa không ngừng rồi mài dũa nữa
Đôi lúc phải thêm, nhưng lắm khi phải bớt. 

Phảỉ bớt,  phải bớt… Mỗi lời, mỗi chữ thốt ra, viết ra, phải đắn đo, lựa chọn, chú ý tối đa đến mức chính xác. Vậy mà cũng phải biết bớt. Nói, cũng như viết, là lúc phải “định”. “Định” để sắp xếp tư tưởng. Rồi “định” để diễn tả tư tưởng. Không có ngôn ngữ thì không có tư tưởng.

***

Trên đây, tôi chỉ đem văn thơ để nói về chú ý, về “định”. Giá như đem toán ra nói, chắc dễ hiểu hơn. Bởi vì văn thơ là thế giới của tưởng tượng, mà tưởng tượng thì bay hoài chẳng đậu. Bay như vậy, đâu là tưởng tượng, đâu là chú ý? Nhất là đầu óc lại lang thang trong chốn nước mây của thưởng thức nghệ thuật.

Vậy mà văn thơ vẫn dạy người đọc chú ý như thường. Văn thơ giúp ta nhìn, giúp ta mở mắt. Thường thường ta nhìn mà không thấy. Vì không để ý! Văn thơ giúp ta thấy. Một cái thấy sáng hơn, lý thú hơn. Đó là cái thấy của tôi lúc nhỏ đối với cây cau trong vườn nhà. Vẫn là cây cau ấy, nhưng không hẳn cây cau ấy nữa khi lần đầu tôi đọc thơ Hàn Mặc Tử:

Sao anh không về chơi thôn Vỹ
Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên 

Tôi nhìn: đọt cau cao vút, đón nắng ban mai đầu tiên của mặt trời vừa mọc. Nắng rực rỡ và lá cau lấp lánh bao nhiêu niềm vui. Đẹp như vậy, yêu đời như vậy, sao trước đó tôi không biết thấy? Vũ trụ tặng tôi niềm vui đầu tiên trong ngày, sao tôi không biết nhận?

Cũng lúc nhỏ, khi học bài “Hàn nho phong vị phú” của Nguyễn Công Trứ, tôi bỗng khám phá ra linh hồn của những cảnh tượng ngây ngô, tầm phào hằng ngày diễn ra trước mắt tôi. Có gì đâu, một bóng nắng, một nền nhà mưa dột:

Bóng nắng dọi trứng gà trên vách, thằng bé tri trô
Giọt mưa xoi hang chuột trong nhà, con mèo ngấp ngó

Lúc nhỏ, tôi cũng nghèo mạt như Nguyễn tướng công, nhà cũng dột, mái cũng thưa, đâu thấy bóng nắng đùa nghịch có duyên như vậy!

Sau này, cái thấy mà tôi học được trong thơ sâu kín hơn, lúc tâm hồn thật lắng đọng. Thấy rồi, thì khoái cảm rợn người. Cũng mái tranh ấy, cũng nhà trống ấy, định tâm lắm mới thấy bóng trăng khuya của Nguyễn Du:

Không ốc lậu tà nguyệt
Chiếu ngã đơn thường y

(Nhà trống trăng tà dọi, Chiếu trên áo của ta)

Lắng lòng rồi mới “thấy” trăng khuya: ánh trăng chiếu trên người vừa trở giấc, người ấy nghèo xơ, bệnh hoạn, thân thế chẳng ra gì, cùng quẫn nơi chốn quê người, tỉnh giấc sau khi nằm mộng thấy lại người vợ vừa mất. Nhà rách, mái thưa, mộng tan, người đâu mất, chỉ thấy trăng… trăng chiếu trên áo. Trăng ấy vừa thực, lại vừa gợi cảm.

Thực, vì chiếu trên áo nên người tỉnh giấc mới thấy; chiếu trên đầu, trên tóc, làm sao thấy được? Nhưng lại rất gợi cảm, vì áo của người nghèo mạt nằm kia chắc chắn phải là áo rách, áo sờn. Tả nỗi cô quạnh, thê lương của người ấy, có gì tê buốt hơn mảnh áo sờn đẫm ánh trăng khuya?

Cái thấy đó, bất cứ ai có chút tâm hồn đều biết khi ngắm một bức tranh tĩnh vật. Ba bốn quả táo trên bàn ăn. Chuyện tầm thường của cái nhìn hàng ngày, mấy ai định tâm mà nhìn quả táo? Nhưng hãy nhìn quả táo trong bức tranh của Cézanne: một chút ánh sáng trên vỏ trái cây cũng mang cả một linh hồn. Ngắm những quả táo trong tranh, tưởng chừng như mình mới thấy quả táo lần đầu! Chiếc áo sờn đắm ánh trăng khuya cũng vậy: đó là bức tranh tĩnh vật của thơ.

Và chính vì vậy mà sự thưởng thức thơ đòi hỏi hai mức định tâm: định để thấy một cảnh thực mà mình lơ đãng không biết nhìn, và định để biết cảnh thực mà mình vừa chợt thấy được thăng hoa bằng tưởng tượng, bằng cảm giác, bằng ấn tượng. Cảnh đó vừa thực, vừa “thực hơn cả thực”. Thực, như quả táo hàng ngày. Nhưng thực hơn cả thực, vì quả táo bỗng có linh hồn. Khi thấy linh hồn của bài thơ, ấy là lúc “tuệ” bừng sáng trong thưởng thức.

Bởi vậy, thơ hay thường đặt “tuệ” vào câu cuối, dồn tất cả sức sống vào câu cuối, tuồng như người đọc được bài thơ dẫn tưởng tượng và cảm giác phiêu du tận cùng non nước, và khi đến chỗ không đi được nữa thì cánh cửa bật ra, cả một rừng hoa mai hiện ra trước mắt. Hai câu thơ trên đây của Nguyễn Du là hai câu cuối trong bài Ký mộng. Thơ Nguyễn Du có nhiều câu cuối thần kỳ như vậy. Cũng như thơ Đỗ Phủ. Cũng như thơ Đường. Cũng như thơ của Anh, của Pháp, của Tây Ban Nha, của toàn thế giới.

Tôi đã bắt đầu bài viết bằng khả năng tập trung chú ý và ký ức mà các em học sinh học được từ nhà trường. Tôi chấm dứt với ý ấy. Tận cùng của “định” là “tuệ”. Giống như hoa mai nở bừng. Giống như câu cuối của một bài thơ hay.

Nguồn: Văn hóa Phật giáo

Tagged as:

39 phản hồi »

  1. Bài này tốt đấy.
    Nói dài một tí là :
    – Nội dung đúng đắn, thiết thực với các thầy cô, các bậc cha mẹ và các học sinh.
    – Hình thức khéo léo, không quá bóng bẩy mà cũng không nhạt nhẽo.
    Nhưng bảo là học không thấy đổ mồ hôi thì cần quan sát lại.
    Khen bác ở cái chữ “thấy”. Tôi có viết bài “kinh nghiệm” gửi web này (không thấy được đăng, cũng không hồi âm. ha ha … Tôi viết rất ngắn và định dùng nó làm một tiền đề cho một loạt sau đó.). Đại ý: kinh nghiệm không thể truyền từ người này sang người khác. Nếu bác đọc comment này thì xin cho ý kiến về điều ấy.
    Còn cái chữ “định” tôi đoán là bác mới dùng nó theo cái mà bác được học nhưng cũng xin hỏi bác đã định tâm mà tìm hiểu nghĩa chữ định bao giờ chưa? nếu có thì rất mong được nghe ý kiến.

  2. Bài viết rất hay, nhưng không hiểu sao tác giả lại bắt đầu bằng “ĐỊNH”. Theo tôi được biết thì trình tự là “GIỚI – ĐỊNH – TUỆ”. Giới là những ràng buộc, những ngăn cấm, những cái bắt buộc người ta phải theo, phải thực hiện. Giữ nghiêm GIỚI thì mới có thể ĐỊNH. Một em bé đến lớp thực hiện giới đó là “khoanh tay lên bàn, mắt nhìn lên bảng, tai nghe cô giảng” để em thấy “hay thật là hay”. Thực hiện GIỚI tức là chấp hành kỉ luật, tức là thực hiện nề nếp, tức là biết ghép mình vào kỉ cương

    • Coi là một trình tự thì không nên mà nó là 3 chân kiềng bình đẳng. Tức là có 3 quan hệ Giới -Đinh, Giới – Tuệ, Định – Tuệ với 6 chiều hướng xem xét. Và tác giả chỉ bàn 1 quan hệ. Thậm chí cũng mới bàn một chiều Định -> Tuệ.

    • Nói đến “Giới” có lẽ ít dân tộc nào thấm thía như dân tộc Việt nam. Nói đến cái giới hạn nhưng mang lại sự tiến bộ cho loài người, người ta thường nghĩ tới Hiến Pháp Mỹ (17 tháng 9, 1787) do một nhóm người lập nên và được đa số người dân ủng hộ giữ cho nước Mỹ như ngày nay. Giới có một chữ thôi nhưng nếu không từ đúng nơi ở đúng chỗ là biến thành “ảo”. Chữ nào hay đến mấy nhưng gắn thêm chữ “ảo” vào là thành hư vô hết.

  3. Tuyệt quá! Vừa đọc vừa thấy tâm hồn như được rọi sáng bởi ánh ban mai. Đọc xong càng thêm yêu đời và yêu người!

  4. Hôm qua comment tí mà phạm húy bị xóa mất. Ha ha … Bác tác giả rảnh thì trả lời giùm “định” là gì? Tôi hỏi câu này vì thấy bác mới viết theo cái tiền đề đã được học và chỉ thêm phần ngọn thôi. Mong bác “định tâm” tìm hiểu về chữ định và trả lời giùm. Hoặc nếu thắc mắc bác có thể trao đổi với tôi (nhưng trước hết bác phải có ý kiến riêng để khỏi rơi vào tình trạng bàn 1 chiều).

    • Tagged as: Cao Huy Thuần và By npv bạn NCL say sưa hỏi quá mà không để ý thì phải?

      • Có chứ. Nhưng nếu đúng như quỷ củ thường lệ của “giang hồ” thì khi trích đăng bài npv sẽ xin phép tác giả và được sự đồng ý mới đăng. Khi đó tác giả biết bài của mình được đăng ở web nào thì có lẽ sẽ theo dõi phản ứng của độc giả. Đấy là một việc cần thiết để suy ngẫm, để rút tỉa kinh nghiệm và viết cho khá hơn.
        Nếu quả là ở đây tác giả không ngó vào thì lạ thực.
        Vậy tôi bàn thế này:
        (*) Định vốn không phải từ Việt gốc Hán như lâu nay nhiều người nghĩ mà là từ gốc Việt được người Hán vay mượn. (điều này còn phải giải quyết lâu dài và sâu sắc, tôi chỉ tạm nói ra và ai tin thì tin).
        Định có nghĩa là tin chắc vào một điều trong tương lai.
        Trong tiếng Việt ta hay nói : tôi định làm cái này, tôi định làm cái kia,… Một người làm việc có kế hoạch, có suy tư bao giờ cũng định rồi mới làm. Nghĩa là anh ta nghĩ về việc đó, hình dung nó, thực hiện nó nhiều lần trong đầu óc tới khi tin chắc rồi mới làm. Một người như thế làm việc tất yếu là có trí tuệ. Lại nữa, khi người đó hình dung, thực hiện nó nhiều lần trong đầu óc không phải chỉ là tưởng tượng mà là tưởng tượng theo đúng các quy luật thực. Điều đó nghĩa là một khả năng tiên tri (biết trước) khi vận dụng quy luật. Hiển nhiên nó đòi hỏi một trí tuệ và một tầm tri thức. Nghĩa là TRONG ĐỊNH VỐN CÓ TUỆ.
        Đấy. Cái vốn mà ông bà để lại sâu sắc trong từng chữ như thế, nhưng mấy ai chịu nhìn lại. hô hô. Cứ học Tây, học Tàu mà không biết các cụ nhà Ta đã thấm nó sâu sắc đến mức một tiếng nói ra bao hàm tri thức cao siêu rồi. Để qua bao thăng trầm con cháu còn có lúc tìm về được.
        Đấy là điều tôi đang nói với các bạn qua biết bao comment đấy.

      • Cán ơn bạn NCL đã có môt comment hay. Trong khi vấn vương với chữ Giới tôi đã tìm tên bộ phim Hà Nội trong mắt ai, là một bộ phim tài liệu Việt Nam của đạo diễn Trần Văn Thủy. Tác phẩm được sản xuất năm 1982 nhưng bị cấm cho tới năm 1987 mới được công chiếu rộng rãi. Mất 44 phút để xem vì sao cái gì hay cái gì thật lại hay bị “giới”(dân ta cũng lạ vì cứ cái gì bị cấm thì lại tìm cách làm ngược lại). Vì không biết bộ phim không còn bị giới hạn từ năm 1987 và cũng không biết tìm đâu nên hôm nay mới xem được nhờ Google. Nếu tôi là thầy giáo như bạn NCL tôi sẽ khuyên các con tìm xem.

      • Thật thú vị những thứ bị “giới” khi ra đời và khi được gỡ bỏ hạn chế thì không biết tìm ở đâu đã không đi vào quên lãng nhờ có Google. Chuyện tử tế là một bộ phim tài liệu Việt Nam của đạo diễn Trần Văn Thủy. Tác phẩm được sản xuất năm 1985 nhưng bị cấm cho tới năm 1987 mới được công chiếu rộng rãi và ngày hôm nay tôi mới được xem. Không biết bạn NCL đã xem phim này chưa?

      • Đọc lời bàn và giải nghĩa về “Định” của bạn nclinh2013 mình xin góp một chút ý kiến:

        1. Đầu tiên đó là việc giải nghĩa và bàn về chữ “Định” này có vẻ khiên cưỡng, nhưng mình đồng ý về cái kết luận là “trong Định có Tuệ”. Cũng như bát chánh đạo, đều là tương hỗ.

        2. Về “Định” theo mình hiểu đó là “Định lực” có nghĩa là mình có thể giữ vững vàng, kiên “định”, trước sự vật sự việc, không bị ngã nghiêng, phân tán và tập trung vào cái mình đang và muốn thực hiện (cái này nói giản dị như bác Thuần là sự tập trung, chú ý của trẻ).

        Bàn thêm một ví dụ về chữ “Định” này, thường khi chúng ta đi thi, có bao nhiêu người tập trung hết sự chú ý, đầu óc của mình vào việc làm bài. Hầu hết chúng ta bị rất nhiều thứ làm cho chia nhỏ bớt sự tập trung, trí tuệ. Như một người bắn cung, khi bắn tập và chơi thì có thể bách phát bách trúng, nhưng trong một cuộc thi thì sao? Áp lực giành giải, áp lực khi thấy người khác bắn bách phát bách trúng, etc.

        3. Có Định là cơ sở để có Tuệ (con gà và quả trứng), theo mình cách tiếp cận của bác Thuần là hợp lý. Vì chúng ta mục đích là đi đến Tuệ còn Giới, hay Định là phương tiện đế đến. Khi có Tuệ thì đã gồm có Định còn Giới thì “Tùy” :D

        4. Nói đến giáo dục, thì hầu hết ai cũng có thể có trường “Nhà”, trường “Lớp” nhưng không phải ai cũng có may mắn đến trường “Đạo” và đây là một cái thiếu cơ bản về hành trang vào đời của chúng ta. Về điều này cũng liên quan đến ý của bạn nclinh2013 về kinh nghiệm. Kinh nghiệm là không thể trao truyền, nhưng may mắn có những người có kinh nghiệm dẫn dắt thì những bài học của chúng ta sẽ ít chông gai hơn. Và không phải hầu hết sách vở đều là “cặn bã” của cổ nhân.

        5. Cuối cùng, dù các cụ ta có giỏi bao nhiêu đi chăng nữa, học thêm được của bạn Tàu, bạn Tây điều gì hay thì cũng nên học. Chỉ sợ mình có điều hay mà không biết giữ, thấy điều dở lại học.

        Lời qua tiếng lại một chút để thấy cái thấy của mình đến đâu và thấy cái thấy của mọi người đến đâu.

        Df

      • Không có NCL hỏi thì chắc gì đã có cái comment của bạn daifou82 hay như vậy. Cám ơn nhiều.

  5. Quả thật chưa xem. Lâu, quá lâu rồi mình chưa xem phim… Nếu không ai nhắc chắc mình cũng chả nghĩ đến nữa. Ngày trước thì không có ti vi, điện lại tậm tịt đến nghe đài cũng khó. Nay có điện, có ti vi thì xem tí thời sự vào là muốn đập ti vi đi rồi nên quên béng mất phim. Ờ. sẽ xem tí cho biết mùi đời. ha ha …

  6. Bạn NCLinh2013 cho rằng Giới – Định – Tuệ như ba chân kiềng. Tôi thì hiểu thế này, giới là cái đầu tiên ai cũng có thể làm được. Nó là những qui định cụ thể rõ ràng chỉ yêu cầu làm theo mà thôi. ĐỊNH ở mức cao hơn, nó là sự tự giác của mỗi cá nhân, trong khi GIỚI có thể được kiểm soát bởi người khác. Đến TUỆ thì cao hơn hẳn. Anh có thể GIỚI, có thể ĐỊNH nhưng chưa chắc đã đạt được đến TUỆ.
    Liên hệ đến giáo dục, tương ứng với giới là tính kỉ luật thể hiện bằng những qui định cụ thể như học sinh ngòi trong lớp phải giữ trật tự, muốn nói điều gì phải giơ tay xin phép thầy (cô) giáo, khi thầy (cô) vào lớp phải đứng dậy chào, v.v… tất cả những cái đó là những giới đối với người học
    Không biết cách hiểu của bạn NCL về Giới – Định – Tuệ như thế nào, xin vui lòng trao đổi

    • Một kẻ trước mặt người khác thì vẫn bình thường nhưng đóng cửa xem sex thì không thể coi là giữ giới, tức là người khác không thể kiểm soát thay bản thân mỗi người được. Vậy câu: “GIỚI có thể được kiểm soát bởi người khác” cần xem lại. Ngay cái “kỷ luật” thì chữ “kỉ” đã có nghĩa là tự thân thực hiện chứ không phải người khác kiểm soát. Đại khái Có thể nói là tất cả mấy điều bạn nói ra chả đúng được điều gì. Còn lại bàn sau.

    • “Vậy câu: “GIỚI có thể được kiểm soát bởi người khác” cần xem lại.” Nhất trí với câu này của bạn NCL. Giới phải bắt đầu từ việc làm mẫu từ chính người đưa ra điều “giới”. Như muối thối rồi chỉ có cách dùng nước mà rửa.

      • Bạn Kim Quy nói cũng không phải. Giới là việc thực hiện tự nguyện, tự thân. Ví dụ:
        Thầy bảo trò: Ta cho rằng xem sex là tồi và không nên xem, ta đặt ra giới không xem sex. Thế nhưng ông ta vẫn xem còn trò thì vẫn không xem.
        Thế thì giới ấy vẫn tồn tại và trò vẫn giữ giới ấy chứ có phụ thuộc gì vào mẫu đâu?
        Vặn vẹo nhỉ?

      • Giới có thể được kiểm soát bởi người khác là có thực. Tôi đọc sách thấy nói các vị tăng có mùa an cư kết hạ là thời điểm các vị ngồi lại giúp nhau chỉ lỗi.
        Kỉ luật chủ yếu là tự thân mỗi người giữ kỉ luật, song vẫn có chuyện người vi phạm kỉ luật được tổ chức giúp đỡ xử lí
        Như vậy thì giới (hay kỉ luật) là có thể được kiểm soát bởi người khác

  7. À, quên, tặng các bạn bài viết này trên TIASANG: Thân phận người thầy
    Link: http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=113&News=6312&CategoryID=6

    • “Thân phận người thầy Nguyễn Khánh Trung” Tôi hiểu là bạn Nguyễn Vân còn có tên Nguyễn Khánh Trung có đúng không?

      • Không phải vậy đâu bạn à. Mình chỉ là một giáo viên ở một miền quê thôi. Bài viết của NK Trung có nói tác giả đã đến Phần Lan khảo sát, mình thì chưa bao giờ được đi ra nước ngoài. Có bài này của mình, nếu rảnh mời bạn đọc: Buồn vui nghề dạy học,
        Link: http://vnthuquan.net/truyen/truyen.aspx?tid=2qtqv3m3237nvn1n2n1n0n31n343tq83a3q3m3237nvn
        Nếu có gì đồng cảm nháy cho mình phát vào mail này: lailyanh@gmail.com
        Được đọc một cái mail cũng ví như có người lại thăm.
        Mình ở nhà mà có người ở xa lại thăm há chẳng lấy làm vui sao.

      • Có bài viết mới trên báo mạng với nhiều thông tin để suy ngẫm cho đúng hơn về GD hôm nay. Đã đến lúc lật bài ngửa với Trung Quốc chưa? – Boxitvn.net hoặc http://www.boxitvn.net/bai/17442

        HTN: Lần sau bạn làm ơn dẫn những link sát với chủ đề hơn!

    • Chỉ xin bàn một chi tiết: “Và để trở thành giáo viên chính thức của trường này, chị đã phải vượt qua 36 hồ sơ khác cùng nộp đơn dự tuyển.”
      Nghĩa là 35 người khác không vào trường ấy. Họ đi đâu?
      Họ vào trường khác thì vẫn là bấy nhiêu người, chỉ là ở những nơi khác nhau. Nếu thế thì xét trên bình diện xã hội, cái thông tin phải vượt qua 36 người để làm giáo viên không có ý nghĩa gì. Câu ấy chỉ dùng để khen riêng cô Paula thôi.
      Họ không làm giáo viên mà làm trái ngành thì đào tạo lãng phí thế sao? Điều này có thể suy diễn là đất nước ấy quá giàu và lãnh đạo đất nước ấy quá kém không?
      Không phải không còn chi tiết nào đáng để bàn mà bởi sợ bà con sốc quá không dám nghe và sợ comment lại bị xóa mất công “mổ cò” nãy giờ.
      Chẳng hạn về phần viết về GV VN:
      Giáo viên nào kêu rằng đi dạy không đủ sống sao không bỏ ngành đi? Cái đám không dám bỏ ngành, bám mãi vào nhà nước ấy là dạng yếu đuối, mà đã yếu đuối thì lời nói của họ có đáng quan tâm chăng?
      Giáo viên nào kêu rằng làm giáo viên chịu nhiều áp lực sao không bỏ ngành đi? Sang làm việc khác cho đỡ áp lực, để thực hiện cái quyền “sung sướng”? Cái đám không dám “mưu cầu hạnh phúc” ấy là dạng yếu đuối, lời nói có đáng quan tâm chăng?
      Hay là cái đám ấy không đủ năng lực để “mưu cầu hạnh phúc”? Thể thì họ khổ là tại họ chứ tại gì ngành GD mà kêu ca?
      Đại khái thế.
      Cũng có thể nói: Họ kêu ca về công việc, về đời sống mà không chuyển có thể vì không muốn chuyển. Rất có thể đời sống GV đã tốt rồi, điều kiện làm việc khá rồi nhưng việc kêu thì cứ kêu, thêm được tí nào hay tí ấy?
      Đại khái thế.
      Viết lằng nhằng thế để chê bài báo viết chả có giá trị gì. Toàn là suy nghĩ chủ quan của tác giả chứ không thể hiện được hiện thực gì.

  8. Daifou82 này. Chắc ban cũng như tác giả lại căn cứ trên cơ sở là cái đã học thôi.
    Bạn hãy ngồi đọc thành tiếng 1000 lần chữ Định và 1000 lần chữ Tuệ đi rồi nghe mình giải thích. Tại sao phải 1000 lần? Để không thành kiến về nó và sống với chính nó, chính cái âm thanh mà bạn phát ra. Bạn có bao giờ tự hỏi sao diễn tả cái đó người ta không nói là “voanh” (mình vừa bịa ra, chả có nghĩa gì) mà lại nói là “định”? Nghĩa là bản thân cái tiếng ấy có một tác dụng mà ta vì quen nghĩa đã quên mất cái vỏ âm thanh chứa cái nghĩa ấy, không nhận ra rằng cái vỏ khác không đủ để chứa cái nghĩa ấy. Về triết học thì người ta bảo nó là sự thống nhất giữa nội dung mà hình thức.
    Bây giờ nghe đây:
    ĐỊNH gồm âm đầu Đ, vần INH và thanh NẶNG.
    Đ : đầu lưỡi bật ra từ vòm miệng bên trên, thể hiện sự dứt khoát.
    INH : âm thanh vang ra, bám dính vòm trên của miệng thể hiện sự không rời (chẳng hạn, khác với ANG cũng vang ra nhưng bay xa so sánh để dễ thấy chứ thực ra chỉ cảm nhận là đủ).
    thanh NẶNG thể hiện sự dồn đọng, đóng cục.
    Nếu phát âm đủ nhiều lần (khoảng 1000 lần) bạn sẽ cảm thấy chuyện như thế chăng?
    Trở lại với tư tưởng của ta. Một ý niệm (chưa phải 1 ý nghĩ, trong đầu ta vô số cái như thế xuất hiện và trôi đi mà ta không biết) bật ra (Chữ Đ) bạn bám dính lấy nó (vần INH) và khiến nó thành hình (đóng cục, thanh NẶNG) thì ấy là ĐỊNH, là sự chắc chắn vậy. Khi quán về 1 điều trong tương lai có vô số ý niệm như thế thành hình bao quanh cái điều ấy dần tạo thành 1 hình ảnh rõ nét về điều ấy cho người ta khả năng tiên tri (phần trăm tùy người). Nhờ hình ảnh rõ nét mà người ta tin chắc vào nó (bất kì nhà khoa học thật sự nào cũng nên xem giúp tôi điều này có đúng không nhé). Cho nên tôi nói : Định là tin chắc vào một điều trong tương lai. Và tiếp diễn như comment đã có ở trên. Bàn thêm, trong sự bám dính không rời đã là giới rồi nên trong Định đã có GIới.
    Ấy là nói để các bạn có biết tí đạo Phật ngẫm thế, chứ tất nhiên tôi có tìm kiếm ngữ nghĩa và cũng trùng khớp như vậy nhưng không tiện nêu ở đây.
    TUỆ gồm âm đầu T vần UÊ và thanh NẶNG.
    T: thể hiện sự đột ngột bật ra mà lưỡi bất động.
    UÊ gồm U thu môi lại định hình trước khi bắt đầu phát âm tiếng Tuệ, Ê mở rộng môi ra (Nó cũng giống với OE, OA, UA, UƠ, … nhưng chữ Ê thể hiện sự trầm xuống, còn A thì không trầm xuống, Ơ còn bay cao lên,…) thể hiện sự phát từ trong ra, và trầm xuống.
    thanh NẶNG thể hiện sự lắng đọng, thành hình như trên đã bàn.
    Trở lại với tư tưởng. Một ý niệm đặt tiền đề từ sự thu lại nhưng vô hình (chữ U thu lại nhưng chưa thành tiếng) đột ngột phát ra trong sự bất động (T) mở rộng và trầm xuống (chữ Ê) lắng đọng thành hình (thanh NẶNG). Như thế Tuệ là thu lại (ĐỊNH) rồi tỏa sáng nhưng trầm lắng (GIỚI), tức là trong Tuệ cũng đã có cả Định và Giới.

    • Cảm ơn nclinh2013 đã dành thời gian giải thích về Định và Tuệ, nó cho mình thêm một cái thấy rất hay về tiếng Việt. Đọc xong, tự nhiên lại nghĩ về âm nhạc, không phải tự nhiên các hợp âm trưởng và thứ lại mang lại cho người nghe những cảm nhận và trạng thái khác nhau, hay các nhân viên FBI cứ phải tập hô “Đứng im” cho thật chuyên nghiệp :D.

      Về gợi ý đọc 1000 lần của nclinh2013, có thể lúc nào đó mình sẽ thử, và trao đổi thêm với nclinh2013 về nó.

      Những gì mình viết tất nhiên là hoàn toàn xuất phát từ những gì mình Học được. Lâu rồi, mình có viết một bài gọi là “Tôi là ai?” đại ý rằng mỗi chúng ta là một “sản phẩm” của xã hội theo một nghĩa nào đó (tập hợp những lựa chọn có thể, và tập hợp những tiêu chí để lựa chọn – kiểu như cây quyết định). Vậy hy vọng nclinh2013 có thể trao đổi thêm về ý “căn cứ trên cơ sở là cái đã học”. Khi nclinh2013 trao đổi thì căn cứ trên cơ sở là gì?

      Nói hơi lan man một chút, xin quay lại với vấn đề (revenons à nos moutons :D) Học thế nào.

      Tiếp theo ý của bác Thuần là học Định để có được TUỆ từ trên ghế nhà trường thì mình nghĩ vấn đề không phải là học trên ghế nhà trường. Để có Định trong xã hội ngày nay là càng ngày càng khó, và nhất là khi con người trưởng thành lên. Con người khi sống trong một môi trường thì bị nó ảnh hưởng là điều không thể tránh khỏi (bạn nào thích có thể đọc – Cửa tùng đôi cánh gài – để thấy một ví dụ), vậy mỗi cá nhân làm sao có thể ảnh hưởng ngược lại môi trường? Làm sao cái bát xin ăn của Phật lại có thể trôi ngược dòng nước?

      Mình chưa được đọc bài “kinh nghiệm” của nclinh2013, không rõ nó có liên quan nhiều đến bài của bác Thuần không? Có những đề xuất, hay ý tưởng gì? Nếu không post toàn bộ thì nclinh2013 có thể trao đổi chia sẻ một phần lên đây để mọi người tham khảo.

      Om

    • Cuối thấp niên 70 thế kỷ trước, có một bác về hưu tên Trí Uẩn bày ra chò chơi chỉ dùng bẩy miếng ghép.(bây giờ khéo léo chút là thành giáo sư cũng nên). Bảy miếng ghép của bác rất kỳ lạ vì nó có thể tạo ra mọi thứ từ quá khứ, hiện tại và….tương lai. Trên đời có thứ gì bác cũng chỉ cần bầy miếng ghép lại chỉ và nói “chính nó đấy”. Thật là sáng tạo phải không bạn NCL? Với 29 chữ cái thì bạn NCL tha hồ đùa vui, chơi, dạy, lao động và sáng tạo ra đủ thứ trên đời. Cảm ơn người đã mang chữ quốc ngữ vào cho Việt nam.

  9. Tôi nào có chê Tây với Tàu? Chỉ bảo là người ta chỉ mải học Tây, Tàu mà quên mất học Ta. Trong khi đó Phải có Ta làm nền rồi mới học xa hơn được.
    Lại nữa, về ngôn ngữ thì Tàu học (cướp) của Ta nên học Tàu là để phân định cái nào của ta. Còn tiếng Tây thì chưa phát triển tới nơi. Vì sao vậy? Tiếng nói các dân tộc là đa âm tiết nhưng tiếng Ta lại đơn âm. Thực ra tiếng Ta vốn cũng Đa âm, sau cô đọng dần mà thành đơn âm để mỗi âm 1 nghĩa (những tiếng vô nghĩa là vì ta quên nghĩa thôi). Ấy là sự giản dị đến cùng tột nhưng không mất đi nghĩa và dấu vết thanh âm làm nên mỗi tiếng ấy. Đó là lí do vì sao tiếng Việt chứa nhiều thông tin hơn tiếng Tây. Duy có tiếng Ấn, Tạng mình còn do dự khi so sánh với tiếng Việt.
    Điều tôi phân tích trên không phải chỉ trong tiếng Việt mà cả tiếng khác. Ví dụ tiếng Anh :
    Study là học và stupid là ngu ngốc. Hai từ đều gồm stu là sự suy tư. dy thì âm thanh dài ra, sự suy tư kéo dài mãi nên nghĩa là học. còn pid âm thanh bị chặn lại, suy tư bị đứt, không đến nơi nên là ngu ngốc. Như vậy ngu là sự học mà không đến nơi đến chốn.
    Hay thử thắc mắc sao learn cũng là học, study cũng là học?
    learn có thành phần là earn là kiếm (ăn, tiền …) nghĩa là sự thu lượm, nhặt nhạnh nên nó chỉ là phần đầu của sự học, là sự lượm lặt còn study là sự suy tư lâu dài là mức học cao hơn,…
    Bạn không tin tôi thì thử tìm hiểu xem tiếng Anh có nguồn từ đâu? Tìm hiểu trong những nguồn ấy xem những từ có âm gần giống thế có giống điều tôi nói không nhé?

    • OMG, bạn Chí Linh check lại xem STU là gì nhé! Đọc được và hiểu ra thì nên thực hiện nhé!

      Thưa các Bác và các bạn, tôi đã định không để mắt tới các Bình loạn của bạn nclinh vì quá bận, nhưng lần này tôi nhất định không muốn mọi người lại bị bịp một lần nữa. Nếu ai tra wikipedia thì sẽ có những thông tin chính xác về tiếng Anh có nguồn gốc từ tiếng nào.

      Để mọi người có quyền lựa chọn, nghe theo bạn Linh hay Oxford, tôi chỉ trích nguồn từ từ điển online Oxford Dictionary ra là đủ Minh chứng rằng:
      – study và stupid không có chung gốc rễ root or word stem gì cả!
      Còn stu, thưa các bác và các bạn, không phải là gốc của study hay stupid đâu ạ.
      Stu là viết tắt cho tên Stuart, còn tiếng lóng thời này là Viết tắt của câu “Shut the ….up!” (nghĩa tiếng Việt là “Hãy im đi!”

      http://oxforddictionaries.com/definition/english/study

      Nhắc đến sự phân tích có vẻ cao siêu, nhưng thực ra xiêu vẹo, về âm dài, âm ngắn, vv… của bạn ấy thì chắc ai học ngôn ngữ cũng ngất! Chúng tôi đã từng phải đọc sử thi Beowulf để biết thế nào là nguồn gốc Anglo-Saxon từ Đức của tiếng Anh cổ. Tiếng Đức cổ có lịch sử dày như tiếng La Tinh. Tiếng Đức cổ chịu ảnh hưởng của tiếng La tinh do các hoạt động Buôn bán với La Mã. Sau này tiếng Anh Trung đại cũng như tiếng Đức Trung đại chịu vẫn chịu ảnh hưởng của tiếng La Tinh vì trong nhà thở, các trường đại học đều Sử dụng tiếng La tinh.

      Trong trường hợp study thì như sau:

      Pronunciation: /ˈstʌdi/
      – nếu ai biết phát âm thì trong từ study, âm ʌ ( a ngược) được nhấn mạnh nên kéo dài khi phát âm, chứ không phải là kéo dài ở âm i cuối từ!
      – gốc của từ study:
      Middle English: shortening of Old French estudie (noun), estudier (verb), both based on Latin studium ‘zeal, painstaking application’.

      Còn đây là thông tin về stupidity sự ngu xuẩn, không chút dây mơ rễ má nào với study cả ạ. Ai mà tự phát kiến ra thì nên tự dùng chứ đừng mang ra khoe cho Thiên Hạ cười nhé ;)

      – gốc của từ stupid:
      mid 16th century: from French stupide or Latin stupidus, from stupere ‘be amazed or stunned’

      http://en.wikipedia.org/wiki/Stupidity

      Stupidity is a lack of intelligence, understanding, reason, wit, or sense.
      Stupidity may be innate, assumed, or reactive – a defence against grief[1] or trauma.[2]

      Stupidity is a quality or state of being stupid, or an act or idea that exhibits properties of being stupid.[3] The root word stupid,[4] which can serve as an adjective or noun, comes from the Latin verb stupere, for being numb or astonished, and is related to stupor.[5] In Roman culture, the stupidus was the professional fall-guy in the theatrical mimes.[6]
      According to the online Merriam-Webster dictionary, the words “stupid” and “stupidity” entered the English language in 1541. Since then, stupidity has taken place along with “fool,” “idiot,” “dumb,” “moron,” and related concepts as a pejorative appellation for human misdeeds, whether purposeful or accidental, due to absence of mental capacity.

  10. OMG, bạn Chí Linh check lại xem STU là gì nhé! Đọc được và hiểu ra thì nên thực hiện nhé!

    Thưa các Bác và các bạn, tôi đã định không để mắt tới các Bình loạn của bạn nclinh vì quá bận, nhưng lần này tôi nhất định không muốn mọi người lại bị bịp một lần nữa. Nếu ai tra wikipedia thì sẽ có những thông tin chính xác về tiếng Anh có nguồn gốc từ tiếng nào.

    Để mọi người có quyền lựa chọn, nghe theo bạn Linh hay Oxford, tôi chỉ trích nguồn từ từ điển online Oxford Dictionary ra là đủ Minh chứng rằng:
    – study và stupid không có chung gốc rễ root or word stem gì cả!
    Còn stu, thưa các bác và các bạn, không phải là gốc của study hay stupid đâu ạ.
    Stu là viết tắt cho tên Stuart, còn tiếng lóng thời này là Viết tắt của câu “Shut the ….up!” (nghĩa tiếng Việt là “Hãy im đi!”

    http://oxforddictionaries.com/definition/english/study

    Nhắc đến sự phân tích có vẻ cao siêu, nhưng thực ra xiêu vẹo, về âm dài, âm ngắn, vv… của bạn ấy thì chắc ai học ngôn ngữ cũng ngất! Chúng tôi đã từng phải đọc sử thi Beowulf để biết thế nào là nguồn gốc Anglo-Saxon từ Đức của tiếng Anh cổ. Tiếng Đức cổ có lịch sử dày như tiếng La Tinh. Tiếng Đức cổ chịu ảnh hưởng của tiếng La tinh do các hoạt động Buôn bán với La Mã. Sau này tiếng Anh Trung đại cũng như tiếng Đức Trung đại chịu vẫn chịu ảnh hưởng của tiếng La Tinh vì trong nhà thở, các trường đại học đều Sử dụng tiếng La tinh.

    Trong trường hợp study thì như sau:

    Pronunciation: /ˈstʌdi/
    – nếu ai biết phát âm thì trong từ study, âm ʌ ( a ngược) được nhấn mạnh nên kéo dài khi phát âm, chứ không phải là kéo dài ở âm i cuối từ!
    – gốc của từ study:
    Middle English: shortening of Old French estudie (noun), estudier (verb), both based on Latin studium ‘zeal, painstaking application’.

    Còn đây là thông tin về stupidity sự ngu xuẩn, không chút dây mơ rễ má nào với study cả ạ. Ai mà tự phát kiến ra thì nên tự dùng chứ đừng mang ra khoe cho Thiên Hạ cười nhé ;)

    – gốc của từ stupid:
    mid 16th century: from French stupide or Latin stupidus, from stupere ‘be amazed or stunned’

    http://en.wikipedia.org/wiki/Stupidity

    Stupidity is a lack of intelligence, understanding, reason, wit, or sense.
    Stupidity may be innate, assumed, or reactive – a defence against grief[1] or trauma.[2]

    Stupidity is a quality or state of being stupid, or an act or idea that exhibits properties of being stupid.[3] The root word stupid,[4] which can serve as an adjective or noun, comes from the Latin verb stupere, for being numb or astonished, and is related to stupor.[5] In Roman culture, the stupidus was the professional fall-guy in the theatrical mimes.[6]
    According to the online Merriam-Webster dictionary, the words “stupid” and “stupidity” entered the English language in 1541. Since then, stupidity has taken place along with “fool,” “idiot,” “dumb,” “moron,” and related concepts as a pejorative appellation for human misdeeds, whether purposeful or accidental, due to absence of mental capacity.

    Trang Học Thế Nào mong độc giả giữ thái độ đối thoại đúng mực. Tranh luận có thể gay gắt, nhưng phải hướng về đề tài liên quan đến bài viết.

  11. Thanh Hải bắt đầu đi đúng hướng rồi đấy. Tìm thêm chút nữa sẽ thấy. Một từ khi chuyển từ dân tộc này sang dân tộc khác thì sự phát âm tất nhiên có lệch đi do tính chất về khẩu âm địa phương, do sự hòa âm của các âm tiết nên cũng biến điệu. Bạn chỉ căn cứ vào cách phát âm hiện nay bảo nó khác nhau thì phi triết học quá. Bạn nên học thêm sự hình thành âm nhạc đi.
    Rồi tôi hỏi Bạn đã xem giải phẫu về xương sọ của người dân những nơi ấy chưa? Đã nghiên cứu nào của các vị khoa học bên ấy có bàn đến giải phẫu sọ có liên quan tới ngôn ngữ chưa? Bạn chỉ căn cứ vào cái bạn học mà không suy xét nên không hiểu rõ cái điều tôi nói cũng phải. Tôi đã bảo những điều tôi nói luôn lạ mà.
    Lại bàn, một từ du nhập từ dân tộc này vào dân tộc khác thì trước hết lại không đi ngay vào sách vở mà sống tiềm tàng trong ngôn ngữ thường nhật khá nhiều thế hệ và biến đổi nghiêm trọng. Khi lần đầu đưa nó vào từ điển thì những người đương thời còn rõ dấu vết nên dùng kí tự lưu lại cái nguồn gốc ấy (nhưng không ghi chú vì thời ấy làm chuyện ấy là không cần thiết) dù cách phát âm đã lệch đi. Còn cái mà các vị khoa học bên ấy khảo cứu là chỉ từ sách vở, xem lần đầu nó xuất hiện trong cuốn nào năm nào nên tất nhiên không phải cái mà tôi nói.
    Bàn thêm, là hai từ dù cùng gốc nhưng du nhập vào một dân tộc trong hai thời kì khác nhau có khi còn kí âm rất khác nhau nữa kia. Nếu tôi đưa ra những ví dụ về hai từ chẳng có tí dấu hiệu giống nhau nào mà bảo nó có cùng gốc thì chắc các bạn thân mến của tôi còn chê tôi dài dài kia. ha ha …

  12. Ngay về nguồn gốc dân tộc của một từ cũng cần rất thận trọng. Các vị khoa học cả Tây, Tàu, Ta đều bảo ĐỊNH và TUỆ là gốc Hán. Tôi là người duy nhất cho đến nay bảo nó gốc Việt nên điều tôi làm đương nhiên khó có ai hiểu cũng là bình thường. Xét Một từ ngoài âm điệu, ngữ nghĩa còn phải xét cả tập quán sinh hoạt, sản xuất, rồi văn hóa và bao nhiêu thứ khác như giải phẫu, âm nhạc mà tôi vừa nêu, thậm chí cả chất nước, độ cao địa phương, khí hậu, gió mùa, …. Nhưng đã vị khoa học nào bàn đến được đủ những thứ ấy đâu.
    Tôi đành chấp nhận để các bạn thấy lạ thôi.
    Ôi cái hiểu biết về lịch sử lại mong manh thế!
    Các bài báo thì người ta cứ cho rằng dẫn nguồn rõ ràng là chính xác lắm nhưng có khi nào họ chịu xem, hiểu cái nguồn ấy đúng hay sai đâu. Nếu cái nguồn rõ ràng ấy sai, nhưng vì uy tín của cái người (tổ chức) làm ra cái nguồn lớn quá, không ai chịu xem lại thì hậu quả biết là bao nhiêu? Chẳng hạn làm gì về văn hóa người ta cũng viện dẫn UNESCO nhưng ai đó đặt vấn đề là có khi UNESCO sai thì sao nhỉ. Ô hô. vậy là làm khoa học bằng niềm tin vào danh tiếng ư? Nhưng một điều chắc chắn cái kẻ bảo UNESCO sai tất bị chê bai khoảng ít nhất là 50 năm.
    Ôi cái cách làm khoa học hiện nay mù mờ quá!

  13. Rất hay! Lão tử nói: Một sinh hai, hai sinh ba, ba sinh vạn vật. Một đây chính là Đạo. Loài người chúng ta cùng một nguồn gốc. Đúng, nhưng mà quá xa xôi. Nói cho gần, chúng ta là con của Mẹ Âu cơ. Phải trở về với mẹ Âu cơ, để biết rằng ta là anh em, để không còn phân biệt giữa Phật giáo hay tôn giáo khác. Từ Định đến Tuệ, rất hay, và có thể áp dụng vào GD.

    nclinh cắt nghĩa các từ, bắt đầu với âm thanh nghe cũng hay, và lạ. Có lẽ, cũng không xa sự thật lắm! Nhưng mà, nó có tính entertainment nhiều hơn. Có điều ngạc nhiên, là dường như có sự trùng hợp trên thế giới: tự nhiên, một ngày, con người đứng thẳng, thanh quản phát triển, rồi phát ra tiếng nói. Nhiều người đống ý, tiếng nói của con người, hình thành từ một vùng phía Tây Ấn độ, rồi lan tràn ra. Con người có khả năng nói được mọi thứ tiếng. Ném sang Mỹ, em bé lớn lên sẽ nói tiếng Mỹ. Ném sang Đức, em nói tiếng Đức, tiếng Ả rập, vân vân.

    Như vậy, gốc, root thế nào tôi không biết, nhưng mọi ngôn ngữ có liên quan. Thế rồi, Giới – Định – Tuệ, nghe cũng có lý. Tại sao không bắt đầu từ Giới? Khi các em mới đi học, thày cô dạy các em mẹ Âu cơ là hoang đường. Trái lại, khoa học ngày nay chứng minh là có thật. Tên Âu cơ là tên con cháu đặt cho mẹ, dù là sau này. Đúng như câu nói: Sinh con rồi mới sinh cha, sinh cháu trong nhà rồi mới sinh ông. Trăm trứng thì là huyền thoại, nhưng dân tộc nào lại không có huyền thoại!

    Tóm lại, GD của chúng ta phải bắt đầu từ mẹ Âu cơ (có thể gọi đây là Giới). Vì do mẹ Âu cơ mà cô thày sẽ yêu thương học trò mình như con. Các em sẽ học hành tốt đẹp trong trường; yêu thương và nhớ nhau khi ra đời. PNH

    • Nhưng mà chỉ khác nhau ở sự thật hay không phải là sự thật, tình yêu hay lừa dối là thành …”mẹ mìn”.

  14. Xin cám ơn Trang Học Thế Nào đã nhắc nhở! Vì đã là mẹ của 3 đứa con và là người luôn quan tâm đến vấn đề giáo dục, nên nhiều khi đọc những bình luận thiếu tính nghiêm túc trong một diễn đàn nghiêm túc bàn về những vấn đề giáo dục, thì tôi không thể không phẫn nộ. Nếu là học sinh, nói những điều ngô nghê thì là chuyện thường, còn nếu là người tự nhận mình là thầy giáo mà nói những điều theo tôi là phản khoa học và thiếu nghiêm túc thì thật tai hại. Có thể một số bạn tán thành vì thấy được giải trí, còn tôi thì thấy ái ngại cho các em học sinh trung học vào đây đọc được rồi không rõ đầu đuôi, lại tiếp thu những “kiến thức lạ” đó thì thật đáng buồn.
    Tôi chỉ muốn hỏi các bạn, các bạn có định trang bị những kiến thức đó cho chính con cái của các bạn hay không? Trước khi trả lời, tôi chân thành mong muốn các bạn suy nghĩ một cách trung thực và hãy vì tương lai con em chúng ta, chứ đừng đùa cợt.
    Có lẽ phụ nữ như chúng tôi, suy nghĩ về vấn đề giáo dục không dựa trên lý thuyết suông. Chúng tôi áp dụng ngay trong cuộc sống và nhận biết được, lý thuyết nào có thể khả thi được, lý thuyết nào chỉ là trong sách vở và không mang chút gì tính thực tiễn. Sánh Đạo Gia Văn hóa, Đạo Làm Người, Đạo của Người Quân tử chiếm gần hết thư viện nhà tôi, nhưng từ khi nhận trách nhiệm làm mẹ, cũng như nhiều người phụ nữ khác, tôi nhìn vào kết quả của việc làm, chứ không phải là lời nói. Sách có dạy rất hay đạo làm người, đạo học, đạo tu thân tích đức, nhưng điều cơ bản, không phải là ai thuộc hơn ai, mà là ai làm tốt hơn ai.
    Tôi muốn hỏi, đã có bạn nào là thầy giáo ở đây tình nguyện dạy lớp học tình thương chưa? Đã có bạn nào chia phần lương của mình để giúp một học sinh nhà nghèo có bố mẹ bị bệnh nặng chưa? (Ngoài GS NBC ra) Có lẽ trong thâm tâm, các bạn là người hiểu hơn hết, những di sản văn hóa của cha ông để lại có giá trị như thế nào. Nhưng để phục vụ cuộc sống thì các bạn nên phát huy những giá trị đó và áp dụng một cách tích cực vào cuộc sống. Sách hiền, sách đạo, khẩu hiệu, khẩu ngữ về đạo đức ở VN thực sự là không thiếu, người giảng đạo đức cũng không thiếu, THIẾU là những hạnh động cụ thể của tất cả mọi người. Vì nền giáo dục nước nhà, mong các bạn hãy bàn luận một cách khoa học và nghiêm túc!

  15. Bài này cho dù không muốn, tác giả cũng sa đà vào câu từ mang tính học thuật, các tranh luận cũng vậy.

  16. Có lẽ là hơi lạc đề, nhưng tôi thiển nghĩ cứ nên nói ra, như một sự cổ vũ cho tư duy phản biện, dù rằng tôi biết Cao Huy Thuần là một tác giả, học giả có tiếng. Còn tôi chỉ là một độc giả vô danh.

    Đó là về câu thơ ” Em không nghe mùa thu” của LTL. Tác giả CHT khẳng định ngay nghĩa đen của nó là “em nghe không?”thì e rằng quá đơn giản và khiên cưỡng! Thiển ý của tôi là như vậy.

    “Em không nghe mùa thu”, một câu Việt văn chưa trọn về ngữ pháp, có thể diễn dịch : “em có nghe thấy không?”, “em không nghe thấyà?”; “em hãy lắng nghe mà xem”, v v. Cái bầu trời tưởng tượng mà câu thơ có thể gợi mở chính là ở cách tu từ kiểu…dang dở, gợi mở một ‘chân trời đa nghĩa’. Vậy mà tác giả “trói” nó vào một nghĩa đen tầm thường (!).

    Vậy thì để cảm được câu thơ, người đọc nó cần có một tâm thế rất “mở” để liên tưởng đến những từ tiếng Việt khác mà câu “em không nghe”-chưa trọn vẹn về ngữ pháp- nó gợi ra chứ không cần “ĐỊNH”, hay thô thiển là “CỐ ĐiNH” vào một điều gì, nghĩa gì. Đó mới là thi ca.

    Mặt khác,tôi nghĩ chữ Giới- Định -Tuệ của Phật giáo cũng không nên lạm dụng để vận dụng vào nhiều mặt thông thường của đời sống. Bởi Giới- Định-Tuệ nó thuộc phạm trù riêng của trí tuệ/ nhận thức. Và cao hơn để có chữ TUỆ thì đã là siêu thức rồi, như cách tôi hiểu về Phật học.

    Vài dòng lạm bàn, có gì thất lễ mong được lượng thứ.

  17. Ha ha … Bận “đá thầu” xong mới về đây được. Xin nói luôn: Cái comment mà tôi bàn về study và stupid; learn và earn là nói liều đấy. Nhưng những cái khác (định và tuệ, hay cái phần cách làm của mấy vị khoa học xã hội và ngôn ngữ thậm chí cả unesco chưa tốt) vẫn là nói nghiêm túc.
    Lý do : Tôi đặt ra một cái bẫy để nói về việc khác.
    Thuật lại: Sau khi bàn rất nghiêm túc, tôi nảy ra ý nhét thêm cái đoạn ấy vào. Cũng phải mất công mới tìm được vài cái từ ấy chứ không phải chơi. Lại phải mất công tìm câu chữ để viết được một cái đoạn có nội dung theo kiểu “cái gì ta cũng biết” để kích thích sự phản kháng của người đọc. Tiếc là có mỗi Thanh Hải phản bác. Rất cảm ơn và cũng xin lỗi Thanh Hải.
    Mục đích: Tôi muốn bàn rằng “khoa học, cái mà ta vẫn hằng nghĩ là đặt nền tảng trên sự chính xác, thực chất vẫn dựa trên niềm tin mà thôi” và “không nhận thức được điều đó thì hậu quả cực kì nghiêm trọng”.
    Khi tôi đưa ra một kết luận gọi là A, Thanh Hải phản đối bằng cách nào? bằng cách nêu ra ở đâu đó, các nhà khoa học bảo rằng : có một kết luận khác với kết luận của tôi và gọi là B. Thực ra điều đó không đủ để khẳng định A là sai. Khi có HAI KẾT LUẬN KHÔNG THỐNG NHẤT thì về logic chỉ có thể khẳng định CẢ HAI KHÔNG CÙNG ĐÚNG chứ KHÔNG ĐỦ KHẲNG ĐINH CÁI NÀO SAI. căn cứ duy nhất là cái mà người ta nêu ra đã được “HẦU HẾT” các nhà khoa học trong “CỘNG ĐỒNG KHOA HỌC” coi là đúng. Nhưng nó chỉ là đúng cho đến lúc ấy thôi. Khi có ý kiến bất đồng thì cả hai ý kiến đều phải xem xét lại như nhau, không thể bảo cái đang được coi là đúng lại không thể sai. Nếu ta làm vậy tức là đã “MÊ TÍN KHOA HỌC” vậy.
    Hậu quả của chuyện đó là khi tôi đưa ra những chứng cớ rằng cách làm của các vị khoa học ấy chưa tốt (điều này thì tôi chắc chắn) thì lòng tin của mọi người lung lay. Ấy là một chuyện nhỏ thôi, nếu là một chuyện lớn thì sẽ dẫn tới sự khủng hoảng niềm tin ghê gớm.
    Đấy chính là cái tôi muốn nói : nhiều người trong chúng ta mới chỉ bàn chuyện trên cơ sở cái đã được học chứ không bàn chuyện trên cơ sở suy ngẫm, tìm hiểu sâu sắc.
    Tôi cũng chưa lí luận rõ ràng về cái đã học với cái suy ngẫm sâu sắc nên đành tạo ra một ví dụ để mọi người so sánh. Tôi cho đó là quan trọng với sự học.
    Một lần nữa cảm ơn Thanh Hải và xin lỗi mọi người vì tôi đã “quyền biến” chuyện “nói liều” trong diễn đàn. Mong các bạn bỏ qua vì dù sao tôi cũng đã sớm xác nhận chuyện này rồi. (không bỏ qua thì cũng không ai ăn thịt tôi cả. Chỉ là tôi thấy đạt mục đích thì xác nhận thôi. ha ha …)

    • Từ khi xuất hiện comment của NCL tới giờ có cái comment này là đúng như bạn tự giới thiệu(trong này có sự tử tế). Cái hay nhất của diễn đàn này đó là những chia sẻ thật lòng đó NCL a.!

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Nhập địa chỉ email để nhận thông báo có bài mới từ Học Thế Nào.

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 7 808 other followers

%d bloggers like this: