How We Learn

Giải pháp ưu tiên phát triển GD Năng khiếu và Tài năng trong Đổi mới GD- Kim Ngọc Minh

Tóm lược:

Lựa chọn ưu tiên thực sự (không phải ưu tiên kiểu gai mít) trong các hướng phát triển giáo dục Việt Nam là một vấn đề cấp bách.  Tham luận này sẽ trình bày giáo dục năng khiếu và tài năng (Gifted and Talented Education – viết tắt là GATE) như là một hướng ưu tiên trong việc cải tổ giáo dục ở Việt Nam với những lợi thế và tiềm năng  của mình trong lĩnh vực này. Phần chính của tham luận là một số giải pháp tiền đề trong phát triển giáo dục năng khiếu và tài năng tại Việt Nam, có tính đến hướng  liên kết và thúc đẩy phát triển trong khu vực ASEAN, áp dụng các mô hình thành công quốc tế tại Hoa Kỳ, Châu Âu và Úc.

Một là, tại sao phải xác định giáo dục năng khiếu và tài năng như là một hướng ưu tiên thực sự? Phân tích sẽ chỉ ra 3 lý do cơ bản. (1) Bồi dưỡng, phát triển nguồn nguyên khí quốc gia, “gia cố lại” một trong ba chân kiềng quan trọng mà ngành giáo dục đã chỉ ra trong mục tiêu của mình là: nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài. (2) Tập trung một nguồn lực hữu hạn nhất định để làm đầu tầu, hoa tiêu, thí điểm cho công cuộc cải tổ giáo dục trên diện rộng. (3) Giáo dục năng khiếu và tài năng không phải là một “đặc ân” cho một số nhỏ “tinh hoa”, mà thực sự là việc đáp ứng quyền  và nhu cầu được phát triển theo khả năng và đặc điểm riêng trong học tập và rèn luyện của các học sinh sinh viên có năng lực và cố gắng vượt trội.

Hai là, một số giải pháp  tiền đề trong giáo dục năng khiếu và tài năng? Sẽ có 3 đề xuất cơ bản. (1) Tạo dựng nền tảng lý luận về giáo dục năng khiếu và tài năng trên cơ sở đúc kết các lý thuyết, mô hình đã và đang áp dụng trên thế giới. (2) Phát triển giáo dục năng khiếu và tài năng theo hướng mở, trong đó nhà trường chỉ là một mắt xích trong tổng thể các yếu tố nhà trường – gia đình – cộng đồng, cùng vun đắp phát triển tài năng với các nguồn lực đa dạng và linh hoạt (3) Thiết lập và tăng cường nghiên cứu, ứng dụng và hợp tác quốc tế trong lĩnh vực giáo dục năng khiếu và tài năng.

Ba là, hướng tới việc thành lập Cộng đồng ASEAN  trong thời gian gần, việc thiết lập mô hình nghiên cứu và ứng dụng mang tầm khu vực về giáo dục năng khiếu và tài năng là điều cần thiết.  Tham luận sẽ điểm qua 3 mô hình cơ bản có thể học tập áp dụng tại khu vực ASEAN: (1) NAGC – Hiệp hội quốc gia về trẻ em năng khiếu (Hoa Kỳ), với mô hình một Hiệp hội liên bang. (2) TalentDay – Ngày vì Tài năng, thúc đẩy  sự phát triển của lĩnh vực giáo dục năng khiếu và tài năng toàn Châu Âu, với mô hình một cuộc vận động mang tính khu vực EU, tương tự như Cộng đồng ASEAN trong tương lai. (3) GERRIC – Trung tâm nghiên cứu và cung cấp ứng dụng về Giáo dục tài năng (Úc), với mô hình là một trung tâm hàng đầu nghiên cứu, phát triển trong lĩnh vực này, trực thuộc một trường Đại học trong một nhà nước liên bang.

1. Bối cảnh chung về giáo dục năng khiếu và tài năng (GATE)

1.1.  Thế giới

Trước hết, xin điểm qua đôi chút về khái niệm năng khiếu (giftedness) và  tài năng (talent).  Thực ra, chưa có một sự thống nhất ở mức quốc tế nào về các khái niệm này. Do không gian giới hạn của bài viết, chúng tôi xin giới thiệu quan điểm tiêu biểu của Gagné (1985, trong NAGC, 2011) trong đó ông phân biệt năng khiếu như là việc có khả năng thiên phú (natural abilities) ở ít nhất một khía cạnh năng lực cơ bản (về trí tuệ và/hoặc thể chất ở dạng tiềm năng) và tỉ lệ % số trẻ em được coi là năng khiếu trong cùng độ tuổi là khoảng 10%. Trong khi đó, tài năng được ông  chỉ ra là có năng lực một cách hệ thống hay kĩ năng, kiến thức nổi trội được xác định bằng thành tựu (performance) trong một hoặc một vài lĩnh vực cụ thể, với khoảng 10% số lượng người được coi là tài năng so với tổng số trong cùng độ tuổi. Gagné cũng là tác giả tiêu biểu chỉ rõ tiến trình phát triển tài năng (talent development) từ khả năng tự nhiên (năng khiếu) tới thành tựu (tài năng), trong đó các yếu tố xúc tác từ môi trường và bản thân cá nhân năng khiếu đều tác động lên quá trình này. (Xem thêm bản mềm tại Gagné, 2009). Hiệp hội trẻ em năng khiếu Hoa Kỳ dùng chung khái niệm “gifted” (năng khiếu) để chỉ ra rằng “Cá nhân năng khiếu là những người thể hiện mức độ vượt trội về tiềm năng (xác định bằng khả năng xuất sắc trong tư duy và học hỏi) hoặc năng lực (thành tựu cá nhân được ghi nhận hoặc thành tích nằm trong top 10% hoặc ít hơn) trong một hoặc nhiều lĩnh vực (cả học thuật lẫn nghệ thuật, thể thao).” (Xem chi tiết hơn về các định nghĩa khác nhau và lịch sử tóm lược của giáo dục năng khiếu và tài năng tại trang web của Hiệp hội trẻ em năng khiếu Hoa Kỳ (NAGC, 2011)) Ở góc độ quan niệm chung, có những nơi cho rằng có một tỷ lệ nhỏ trong tổng số dân nói chung có năng khiếu, trong khi đó ở nơi khác cho rằng, mọi đứa trẻ đều tiềm ẩn năng khiếu và miễn là nỗ lực chăm chỉ thì tài năng sẽ phát lộ. (Freeman, 2011)

Nhìn chung, dù quan điểm thế nào chăng nữa, có một xu hướng chung rất mạnh mẽ trong việc tạo điều kiện cho trẻ em năng khiếu và tài năng phát triển qua các cơ hội giáo dục trong một lĩnh vực có tên Giáo dục Năng khiếu và Tài năng – Gifted and Talented Education- GATE (thường được gọi tắt là Gifted Education). Xin nêu một vài ví dụ:

  • Israel có một Vụ trực thuộc Bộ Giáo dục chuyên trách về GATE trong việc đánh giá và cung cấp giáo dục năng khiếu, tài năng ( từ cấp độ tiểu học đến trung học, ghi chú của người viết)
  • Ả rập Xê út có 22 chương trình Hè cho 960 trẻ em năng khiếu.
  • Dự án Pinnacle (Hoa Kỳ) tuyển chọn những học sinh năng khiếu nổi bật tham gia giao lưu với những nhà bác học được giải Nobel
  • Quỹ Incan ở Thổ Nhĩ Kỳ tạo điều kiện cho trẻ em nghèo có năng khiếu được nhận học vào môi trường bồi dưỡng năng khiếu nội trú.
  • Ấn Độ có hơn 500 trường cho trẻ em năng khiếu từ các vùng nghèo khó. (Freeman, 2011)
  • Tại tiểu bang New South Wales, Úc  (nơi có dân số hơn 7 triệu người, xấp xỉ thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam) – một hệ thống tương đối hoàn chỉnh do một bộ phận chuyên trách trực thuộc Bộ giáo dục tiểu bang đảm nhiệm, với chính sách tuyển chọn và bồi dưỡng chặt chẽ, hợp lý tại 74 trường tiểu học có các lớp năng khiếu (hay lớp cơ hội – opportunity classes) từ cuối cấp tiểu học (lớp 5, lớp 6) và 46 trường trung học tuyển (selective schools) hoặc bán tuyển (có lớp chuyên nằm trong trường bình thường).

Các nước phương Tây phát triển hàng đầu như Hoa Kỳ, Anh, Đức, Australia đều có những chương trình đa dạng, thậm chí từ lứa tuổi mầm non để hỗ trợ và phát triển tài năng và năng khiếu. 4 quốc gia và vùng lãnh thổ được coi như nhóm 4 con hổ kinh tế của Châu Á là Hàn Quốc, Singapore, Đài Loan, Hồng Kông đều có cam kết mạnh mẽ và mô hình nổi bật hàng đầu Châu Á trong giáo dục năng khiếu và tài năng. Tựu chung, không như quan niệm đơn thuần tại Việt Nam coi giáo dục năng khiếu và tài năng chỉ là “trường chuyên lớp chọn”, có tới ít nhất 70 loại hình bồi dưỡng năng khiếu, tài năng khác nhau trên thế giới, từ gia đình cho tới nhà trường và trong cộng đồng, không chỉ do nhà nước xúc tiến mà các tổ chức tư nhân cũng chủ động đứng ra tổ chức với các hoạt động phong phú (Kim, 2011a)

1.2.  ASEAN

Tất cả các nước ASEAN đều có chủ trương phát triển giáo dục tài năng, năng khiếu. Nếu như 7 nước : Brunei, Campuchia, Myanmar, Lào, Thái Lan, Indonesia, Phi-lip-pin xếp GATE nằm trong Giáo dục đặc biệt (bao gồm cả giáo dục dành cho trẻ khuyết tật, thiểu năng) thì Việt Nam, Singapore và Malaysia xếp GATE tách khỏi Giáo dục đặc biệt ( chỉ dành riêng cho trẻ khuyết tật, thiểu năng). Tiêu biểu có thể kể đến Singapore, với Bộ phận chuyên trách về giáo dục năng khiếu trực thuộc Bộ Giáo dục Singapore, điều phối hoạt động bồi dưỡng năng khiếu từ cấp tiểu học với các lớp chọn đến cấp trung học với các trường năng khiếu chuyên biệt. Tại Malaysia, hàng trăm trường năng khiếu khoa học và trường chuyên nội trú đã và đang phát triển trên toàn quốc. Tại thủ đô Viêng chăn (Lào), Trường học sinh năng khiếu và dân tộc trực thuộc ĐH Quốc gia Lào chu cấp học bổng và cả chỗ ở nội trú cho học sinh năng khiếu tỉnh xa về học. Tại Phi-líp-pin, bên cạnh hệ thống trường phổ thông trung học chuyên về khoa học, Quỹ trường Phổ thông trung học khoa học Phi-líp-pin tìm kiếm và gây dựng các nguồn lực tài chính để bù đắp khoảng cách giữa ngân sách do nhà nước cấp và nhu cầu thực tế của hệ thống trường năng khiếu khoa học này. Tại Indonesia và Thái Lan, mỗi nước đều có hơn 150 trường với các loại hình khác nhau bồi dưỡng học sinh năng khiếu. (Kim, 2011b)

1.3.  Việt Nam

Tại Việt Nam, hệ thống bồi dưỡng học sinh năng khiếu, tài năng bắt đầu từ những năm 1960 (tại miền Bắc) với các kì thi học sinh giỏi toàn miền Bắc và mô hình lớp “Toán đặc biệt” của trường ĐH Tổng hợp. Sau năm 1975, hệ thống các trường chuyên và môn chuyên được mở rộng và phát triển, kết hợp với các kì thi chọn học sinh giỏi quốc gia cấp 1, cấp 2, cấp 3. Từ khi có nghị quyết TƯ 2 khóa VIII của Đảng Cộng Sản Việt Nam (1996) và sau này được cụ thể hóa trong Luật Giáo dục 2005 với chủ trương chỉ triển khai trường chuyên với khối Trung học phổ thông; khối chuyên tại trường Trung học cơ sở (THCS – hay nói đơn giản là cấp 2) và tiểu học (cấp 1) gần như bị xóa sổ.  Điều này cộng với việc xóa hẳn kì thi chọn học sinh giỏi toàn quốc cấp tiểu học và THCS – theo ý kiến của chúng tôi – là một bước lùi trong giáo dục năng khiếu và tài năng tại Việt Nam. Thực tế, hiện nay vẫn tồn tại một cách không chính thức một số lớp tuyển chọn (có thi tuyển đầu vào) trong các trường THCS (thậm chí tiểu học) có uy tín. Một số hình thức khác của kì thi học sinh giỏi quốc gia ở các cấp học này như Olympic Toán Tuổi thơ, Cuộc thi giải Toán (www.violympic.vn ) và cuộc thi Tiếng Anh toàn quốc trên internet (www.ioe.vn); hay cuộc thi cấp khu vực phía Nam như Kỳ thi Olympic truyền thống 30 tháng 4 đang diễn ra hết sức sôi nổi và hấp dẫn. Các cuộc thi học sinh giỏi cấp tỉnh cũng đang thu hút và tạo môi trường khích lệ học sinh giỏi trong các địa phương trên toàn quốc. Điều này chứng tỏ thực tiễn sinh động của nhu cầu bồi dưỡng và phát triển năng khiếu học sinh từ lứa tuổi này qua các lớp tuyển chọn và kì thi chọn học sinh giỏi là không thể phủ nhận.

Cho đến nay, một cách chính thức, “toàn quốc có 76 trường và khối THPT chuyên, trong đó có 68 trường THPT chuyên và 9 khối THPT chuyên trong các đại học và trong trường THPT không chuyên. Tính đến tháng 6/2009, tổng số học sinh THPT chuyên trên toàn quốc là 49.904, chiếm 1,74% số học sinh THPT.” (Nguyễn, 2009). Ở cấp độ đại học, từ năm học 1997-1998 đã triển khai đầu tiên mô hình Cử nhân tài năng (Đào, 2009) và từ năm 1998 có khóa Kĩ sư tài năng đầu tiên (ĐH Bách khoa Hà Nội, 2011). Đầu vào chủ yếu của các chương trình này là học sinh có thành tích cao trong các kì thi quốc gia, quốc tế và tuyển sinh đại học; và phải trải qua các kì thi chuyên môn, IQ, hiểu biết xã hội… Chúng tôi chưa tiếp cận được thống kê hay báo cáo tổng thể nào của các loại hình bồi dưỡng phát triển tài năng tại bậc đại học, tuy một số ghi nhận ban đầu về  số lượng lớn các sinh viên của chương trình cử nhân/kĩ sư tài năng được học bổng tiếp tục học tập, nghiên cứu bậc cao hơn tại nước ngoài. (Nguyễn, 2011)

Thành tích của các đoàn học sinh giỏi Việt Nam tham dự các kì thi Olympic học thuật quốc tế là đáng ghi nhận. Một ví dụ tiêu biểu là đội tuyển Toán Việt Nam. Tham gia từ năm 1974, cho đến nay thứ tự xếp hạng của Việt Nam thường xuyên nằm trong top 10. Tuy nhiên, gần đây có báo hiệu về sự “xuống hạng” của không chỉ đội tuyển Olympic  Toán Việt Nam (năm 2010 tất cả các đoàn dự thi Oympic quốc tế của Việt Nam chỉ đoạt 2 Huy chương Vàng. Đội tuyển Toán Việt Nam năm 2011 xếp hạng 31 với 6 Huy chương Đồng, thấp nhất trong lịch sử tham dự kỳ thi này của Việt Nam tính từ năm 1974). Nhiều lý giải và kiến nghị cho sự xuống cấp này đã xuất hiện trên phương tiện truyền thông, như việc bất cập trong tuyển chọn và bồi dưỡng học sinh giỏi, việc ưu đãi vào thẳng đại học cho học sinh giỏi quốc gia để các em yên tâm tham gia các kì thi học sinh giỏi (gần đây bị gỡ bỏ và sắp tới có dự kiến khôi phục), hoặc việc tạo điều kiện hơn nữa cho đội ngũ giáo viên dạy học sinh giỏi, hay một lý giải khác là các em hiện tại quan tâm đến các lĩnh vực khác vốn được coi là “thực dụng”, “thực chất” hơn… Theo chúng tôi, cũng như thể thao, việc cần có cả hai, “thể thao thành tích cao” và “thể thao quần chúng” trong một tổng thể chung là không phải bàn cãi. Đã đi thi là phải hướng tới mục tiêu đoạt giải cao, chứ không chỉ dùng từ quen thuộc là “cọ xát”. (chúng ta có quyền tự tin và quyết tâm về điều này, hơn nữa xét về tương quan thì “trí tuệ” Việt Nam hơn hẳn “cơ bắp” Việt Nam trên các đấu trường khu vực và quốc tế). Vì vậy phải nhìn nhận thẳng thắn nguyên nhân xuống cấp trên phần lớn là do sự không nhất quán của các chính sách và thiếu vắng các nghiên cứu, đề xuất có tính thực tiễn, tính hội nhập và tính tổng thể trong lĩnh vực giáo dục năng khiếu và tài năng.

Bên cạnh các mô hình đào tạo, bồi dưỡng của nhà nước, gần đây việc nở rộ các mô hình của các cá nhân, tổ chức tư cũng rất đáng ghi nhận. Xin nêu 2 ví dụ tiêu biểu:

a)     Trung tâm bồi dưỡng tài năng công nghệ trẻ FPT (FYT) (thông tin từ www.fyt.vn)

Trung tâm bồi dưỡng tài năng công nghệ trẻ FPT (FYT) được thành lập năm 1999 từ ý tưởng của Chủ tịch HĐQT Tập đoàn FPT Trương Gia Bình, với việc hội tụ được những học sinh đạt huy chương trong các kỳ thi Olympic Quốc tế và các sinh viên giỏi của các trường Đại học ở Hà Nội (thông qua thi tuyển, phỏng vấn). Qua 12 năm, trung tâm đã thu hút 256 thành viên, bao gồm 120 học sinh đạt giải quốc tế, 207 giải quốc gia trong các môn Toán, Tin học, Vật Lý, Hóa Học và Sinh học. Ngoài việc cấp học bổng, việc bồi dưỡng các sinh viên này cũng rất đa dạng, bao gồm kiến thức lịch sử văn hóa, kĩ năng mềm, giao lưu học hỏi người thành đạt trên nhiều lĩnh vực… Từ cái nôi FYT, hầu hết các thành viên hiện đang học tập và nghiên cứu tại các quốc gia phát triển; hoặc trở về và sáng lập các công ty công nghệ thông tin với nhiều sản phẩm trực tuyến hàng đầu Việt Nam như VNG; Peacesoft, VC Corp.

b)     Dự Án Phát Triển Hạt Giống Lãnh Đạo Doanh Nghiệp (IPL) (thông tin từ www.ipl.edu.vn)

Dự án IPL (Tên đầy đủ là Dự án Phát Triển Hạt Giống Lãnh Đạo Doanh Nghiệp) là một Dự án giáo dục không vì mục tiêu lợi nhuận (Not-for-profit Educational Project), do các doanh nhân, trí thức tâm huyết và Trường Doanh Nhân PACE cùng phối hợp sáng lập và triển khai thực hiện. Đích đến của Dự án là góp phần phát hiện và phát triển nhân tài lãnh đạo tương lai cho cộng đồng doanh nghiệp, góp phần biến những “hạt giống lãnh đạo” (Born Leaders / Potential Leaders) thành những “lãnh đạo tài năng” (Talented Leaders) trong tương lai, bằng các chương trình đào tạo đúng chuẩn quốc tế với một cơ chế hỗ trợ tài chính đặc biệt dành riêng cho họ.  Chiến lược phát hiện và phát triển “hạt giống” lãnh đạo (nhân tài lãnh đạo) của chương trình hay còn gọi là “Chiến lược 5-9-5” (trong vòng 06 năm): 5 vòng thi tuyển sinh; 9 tháng được đào tạo và 5 năm tự trải nghiệm.  Đến nay có 2 Khóa đã và đang đào tạo và tạo điều kiện trải nghiệm cho tổng số 73 học viên xuất sắc từ 21-28 tuổi, được tuyển chọn trên toàn quốc.

(Một số mô hình “dân lập” khác chúng tôi cũng điểm qua tại: http://on.fb.me/1a9m24H )

2.     Lý do chọn GATE như một ưu tiên trong Cải tổ giáo dục Việt Nam

Chúng tôi xin đưa ra 3 lý do căn bản để GATE là một ưu tiên thực sự trong Cải tổ giáo dục Việt Nam.

2.1.  Bồi dưỡng, phát triển nguồn nguyên khí quốc gia, “gia cố lại” một trong ba chân kiềng quan trọng mà ngành giáo dục đã chỉ ra trong mục tiêu của mình là: nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài.

Nhiều bản kiến nghị về đổi mới/cải tổ/chấn hưng giáo dục của cá nhân và các nhóm trí thức gần đây đã chỉ ra khâu “bồi dưỡng nhân tài” trong ba mục tiêu quan trọng của ngành giáo dục chưa được thực sự thúc đẩy. Nhiều phân tích cũng chỉ ra rằng “bồi dưỡng nhân tài” trong hệ thống giáo dục quốc dân hiện tại mới chỉ dừng lại ở hình thức “trường chuyên lớp chọn”, với cách tuyển chọn và bồi dưỡng chưa thực sự trúng và đúng đối tượng năng khiếu, tài năng (xem thêm Phạm, 2010; Đào và cộng sự, 2004; Tôn và cộng sự, 1997). Thực tế, năm 2010, Đề án Phát triển hệ thống trường trung học phổ thông chuyên giai đoạn 2010 – 2020  được Phó thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân kí ban hành, với tổng kinh phí 2.312,758 tỷ đồng (hơn hai ngàn ba trăm tỷ đồng Việt Nam), với 3 nhóm hoạt động cơ bản: (1) Tăng cường cơ sở vật chất, thiết bị dạy học – 1.660,722 tỷ đồng, tương đương 72%; (2) Phát triển đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý – 624,290 tỷ đồng, tương đương 27%; (3) Phát triển chương trình, tài liệu và đánh giá hiệu quả giáo dục – 27,746 tỷ đồng, tương đương 1%. (Chinhphu.vn, 2010) Chúng tôi không phân tích bình luận khoảng cách giữa việc đầu tư “phần cứng” (cơ sở vật chất) với “phần mềm” (chương trình) và vấn đề nhân lực (giáo viên, đội ngũ quản lý). Tuy nhiên, có ý kiến đáng lưu ý cho rằng đề án này thiếu hẳn đề cập tới việc hỗ trợ khối phổ thông chuyên của các trường Đại học, nơi “xuất xưởng” phần lớn các giải thưởng Olympic học thuật quốc tế của học sinh Việt Nam (xem thêm Hồng, 2010).

Điều quan trọng, theo chúng tôi, là vai trò của “hệ điều hành” – tức là những lý thuyết, mô hình bồi dưỡng năng khiếu, tài năng –  và các “nhà máy sản xuất phần mềm, cung cấp nhân lực và nghiên cứu triển khai hệ điều hành” – các trường sư phạm; các viện, trung tâm nghiên cứu – chưa được nêu ra ở đây. Chúng tôi cũng chưa thấy một cách tiếp cận tổng thể theo các cách thức bồi dưỡng đa dạng và gắn với các độ tuổi dưới trung học phổ thông – lứa tuổi thực sự mới là các mầm non nhiều tiềm năng cần chăm dưỡng. Việc rà soát tiến tới tái thành lập các mô hình bồi dưỡng học sinh năng khiếu tại cấp tiểu học và THCS (thậm chí có thể thí điểm ở cấp mầm non) là việc cần được xem xét nghiêm túc và cầu thị, trên cơ sở học tập kinh nghiệm của các nước tiên tiến. Để có cơ quan thường trực triển khai công tác cột trụ quan trọng này, việc lập Cục Đào tạo phát triển tài năng như dự kiến của Bộ Giáo dục và Đào tạo từ năm 2007 cần xúc tiến kịp thời. (tham khảo Bảo, 2007)

2.2.  Tập trung một nguồn lực hữu hạn nhất định để làm đầu tầu, hoa tiêu, thí điểm cho công cuộc cải tổ giáo dục trên diện rộng.

Khi nói đến một cuộc cải tổ hay chấn hưng, đổi mới giáo dục sâu rộng, rất nhiều trí thức/nhóm trí thức đã lên tiếng và đề xuất về các gói giải pháp tổng thể, thay vì vụn vặt (xem thêm Hoàng, 2009; Hồ và cộng sự, 2008; Viện Nghiên cứu Phát triển IDS, 2009). Tuy nhiên, như Giáo sư Hoàng Tụy cũng chỉ ra “việc chuẩn bị cải cách có thể mất một vài năm. Trong thời gian đó, cần chú ý một số vấn đề cấp bách cần giải quyết để tạo cơ sở và mở đường chuyển dần sang cải cách một cách thuận lợi.” (T. Hoàng, 2009) hay như Nhà giáo ưu tú Nguyễn Văn Ngọc cũng nêu lên

“Về kế hoạch thời gian biểu, cần tỉ mỉ từ nhỏ đến lớn. Trước hết, cần khoảng 2 năm để một mặt hoàn chỉnh lý luận, mặt khác để biến đổi dần dần thực tiễn và thực nghiệm từng bước những gì về lý luận đã thống nhất được. Sau đó, cần 3 năm triển khai thực nghiệm mở rộng khi đã đúc kết được kinh nghiệm ở 2 năm đầu. Như vậy, cần 5 năm để tập dượt thí điểm cải cách hiện đại hoá giáo dục.” (xem thêm Nguyễn, 2008)

 

Giáo sư Trần Nam Bình (Úc)  đã chỉ ra “những biện pháp cải tổ giáo dục khả thi có lẽ là những đề xuất:

·        ít tốn kém tài lực;

·        quy mô nhỏ và dần dần […]”

Nghĩa là “các đề xuất này nên bắt đầu bằng những thử nghiệm quy mô nhỏ tại một vài trường sở địa phương nào đó, trước khi mang ra ứng dụng cho toàn quốc.” (theo Trần, 2006)

Trong Đề án Phát triển hệ thống trường trung học phổ thông chuyên giai đoạn 2010 – 2020 (Chinhphu.vn, 2010) cũng nêu ra “Các trường trung học phổ thông chuyên là hình mẫu của các trường trung học phổ thông về cơ sở vật chất, đội ngũ nhà giáo và tổ chức các hoạt động giáo dục”. Theo chúng tôi, không chỉ các trường trung học phổ thông chuyên, mà các mô hình đào tạo, bồi dưỡng học sinh năng khiếu, tài năng nói chung cần và hoàn toàn có thể đóng vai trò “hoa tiêu” trong công cuộc cải tổ giáo dục Việt Nam, theo quy trình từ “điểm” tới “diện”, từ “đỉnh cao” tới “đại trà”.

2.3.  Giáo dục năng khiếu và tài năng (GATE) không phải là một “đặc ân” cho một số nhỏ “tinh hoa”, mà thực sự là việc đáp ứng quyền  và nhu cầu được phát triển theo khả năng riêng trong học tập và rèn luyện của các học sinh sinh viên có năng lực và cố gắng vượt trội.

Việc tranh luận về GATE trong công bằng xã hội là một chủ đề thường gặp ở ngay cả quốc gia phát triển. Một số ý kiến cho rằng GATE triệt tiêu dân chủ, công bằng xã hội và là một thứ “a-pác-thai” (phân biệt chủng tộc) trong giáo dục. Tuy thế, những mô hình bồi dưỡng đội tuyển trẻ/hạt giống trong thể thao, nghệ thuật ngay từ lứa tuổi nhỏ được đầu tư cấp độ quốc gia một cách dễ dàng hơn nhiều và không gặp những phản đối gay gắt như các hạt giống năng khiếu học thuật trong trường học phổ thông. (xem thêm Kim, 2011c) Điều này không là ngoại lệ với Việt Nam (Luật Giáo dục không cấm mô hình trường năng khiếu nghệ thuật, thể thao dưới cấp độ trung học phổ thông).

Các ý kiến phê phán gần đây trên một số mặt báo Việt Nam về mô hình trường chuyên lớp chọn thường chỉ trích về khoản đầu tư “vô lý” (?), độ vất vả hay học lệch và thiếu kĩ năng sống của học sinh hệ chuyên, và qua đó nhiều ý kiến thậm chí đề nghị…đóng cửa hệ thống trường chuyên. Điều này cũng tương tự như ta sẽ cấm lưu thông tất cả các loại xe cơ giới để tránh…tai nạn. Giáo sư hàng đầu về giáo dục năng khiếu và tài năng Miraca Gross (Úc) đã ví von rất hình ảnh là để đạt cái gọi là “công bằng”, nhiều người có ý định cắt tỉa tất cả những khóm hoa cao lớn hơn (cut down the tall poppies), hay như cách nói ở Việt Nam ta, thôi thì, cho tất cả “cá mè một lứa”.

Thực ra, điều quan trọng là cần nhìn nhận xu thế tổng thể và các kinh nghiệm đi trước của thế giới. Mặc dù còn nhiều tranh luận, nhưng các nghiên cứu quốc tế chỉ ra rằng, học sinh năng khiếu và tài năng có quyền và nhu cầu được thừa hưởng môi trường và phương pháp giáo dục phù hợp với khả năng và đặc trưng của mình. Hay nói cách khác, “công bằng” không có nghĩa là “cào bằng”. Báo cáo “Một đất nước mê lầm – Các trường học đã kìm hãm những học trò sáng dạ nhất Hoa Kỳ thế nào?” (A Nation Deceived – How schools hold back America’s brightest students) năm 2004 đã “thức tỉnh” nước Mỹ và cộng đồng quốc tế trong giáo dục năng khiếu và tài năng (tham khảo http://www.accelerationinstitute.org/Nation_Deceived/Get_Report.aspx , được dịch ra 9 thứ tiếng khác nhau và cho download miễn phí), với việc nhấn mạnh phải tạo ra những cơ hội và cách thức phù hợp với cấp độ học nhanh, sâu và đa dạng của các em học sinh năng khiếu, tài năng. Có một thuật ngữ phổ biến dành để nói về các em học sinh năng khiếu và tài năng khi phải tiếp nhận cách giáo dục cào bằng là “underachievers” – nôm na là “tài năng (bị) thui chột” – những em học sinh này có xu hướng chán nản (thậm chí gây ra tâm lý “phá đám”) với môi trường giáo dục nhàm tẻ, chậm chạp (thậm chí kì thị) xung quanh. Nói chung, các em học sinh năng khiếu và tài năng rất dễ bị tổn thương tâm lý do sự khác biệt của mình và các nhà chuyên môn lưu ý việc hỗ trợ nhu cầu tư vấn xúc cảm và xã hội, bên cạnh việc tạo các cơ hội học tập đúng với khả năng và nỗ lực vượt trội của các em.

Tất nhiên, “công bằng” chỉ thực sự diễn ra khi các em học sinh có năng lực và nỗ lực vượt trội được tạo cơ hội phát triển, bất kể vị trí xã hội và điều kiện kinh tế của gia đình các em. Xin chia sẻ sự đồng tình với điểm dưới đây trong Đề án cải cách giáo dục Việt Nam của nhóm nghiên cứu giáo dục Việt Nam:

“ Không ai ngăn cản việc có một kênh giáo dục ưu tú cho những học sinh ưu tú, trong đó nhà nước có thể chi phí lớn hơn cho các phương tiện học tập và lương bổng của giáo chức. Nhưng đây phải là những trường miễn phí, mọi người phải có quyền có cơ hội giống nhau dự tuyển vào những trường thuộc kênh giáo dục ưu tú, qua các kỳ thi tuyển chọn học sinh ưu tú.” (Hồ và cộng sự., 2008)

3.     3 nhóm giải pháp căn bản để phát triển GATE tại Việt Nam

Trên cơ sở những phân tích trên đây, chúng tôi xin đề xuất 3 nhóm giải pháp cơ bản để phát triển giáo dục năng khiếu và tài năng tại Việt Nam

3.1.  Tạo dựng nền tảng lý luận về giáo dục năng khiếu và tài năng trên cơ sở đúc kết các lý thuyết, mô hình đã và đang áp dụng trên thế giới.

Như đã phân tích ở mục 2.1, cái chúng ta thiếu nhất không phải là nguồn lực (vật chất và kể cả con người), mà là ở “hệ điều hành”, tức là nền tảng lý luận và thực tiễn quốc tế, cụ thể hơn là đúc kết các lý thuyết và mô hình trong giáo dục năng khiếu và tài năng đã và đang áp dụng khắp nơi trên thế giới. Chúng ra rất dễ nghe quen tai những luận điệu như tổ chức lớp năng khiếu riêng biệt là “gây quá tải cho học sinh”, “mất công bằng”, thậm chí “phản khoa học””… Vấn đề là “khoa học” ở đây là “khoa học” gì? Thay vì đóng góp ý kiến để cải tiến các mô hình này tại Việt Nam, các phản biện lại có xu hướng phủ nhận và, như đã nói, một số ý kiến đòi xóa bỏ mô hình giáo dục năng khiếu tài năng trên cơ sở cảm tính chung chung. Mặt khác, việc coi những gì đã là “đinh đóng cột” như chủ trương không triển khai lớp chuyên tại các cấp học dưới Trung học phổ thông hay không còn các kì thi học sinh giỏi quốc gia ở các cấp này (một cách chính thức) cũng là những biểu hiện của chủ quan duy ý chí. Chúng ta không nên tự biến mình thành những ốc đảo riêng biệt và tự “coi trời bằng cái miệng giếng” khi bỏ qua những kinh nghiệm quý báu trên thế giới.

Có 3 ví dụ cụ thể về việc tích cực học hỏi và áp dụng các lý thuyết/mô hình của thế giới.

a)     Tại bang New South Wales, Australia, việc áp dụng quan điểm của Gagné (nhà khoa học giáo dục người Canada, xem mô hình phát triển tài năng của ông qua bản mềm tại Gagné, 2009) là rất rõ ràng, được nêu trong Khuyến nghị về chính sách và triển khai chiến lược trong giáo dục tài năng và năng khiếu toàn bang. Trong đó, có việc phân biệt rõ khái niệm “năng khiếu” (tố chất tiềm năng) và “tài năng” (thành tựu hữu hình) và quá trình “phát triển tài năng” (với sự xúc tác của môi trường xung quanh cũng như bản thân tài năng), từ đó đưa đến những lựa chọn xác đáng trong việc tuyển chọn từ lứa tuổi tiểu học (không chỉ căn cứ vào bài thi học thuật mà còn có đề cử của phụ huynh và giáo viên, kèm với kết quá quá trình học tập và bài kiểm tra đánh giá tố chất tiềm năng của tư duy) và bồi dưỡng hỗ trợ (toàn diện, đa dạng hóa (gia đình – nhà trường – xã hội) và cá nhân hóa cả về thể chất, tinh thần và học thuật).

b)     Vương quốc Anh không hề “bảo thủ” trong giáo dục năng khiếu và tài năng, bằng chứng là gần đây họ tiến hành 2 đợt khảo sát ở mức độ toàn cầu về giáo dục năng khiếu và tài năng, qua đó đưa ra các kiến nghị cho các hoạt động GATE trong nước (dù đã ở cấp độ hàng đầu thế giới). Một là bản báo cáo trình Bộ Giáo dục và Kĩ năng về Giáo dục năng khiếu và tài năng  ngoài nhà trường (out of schools) dày tổng thể 241 trang trong đó riêng phần Tổng kết và Đề xuất là 57 trang. Bản báo cáo này “quét” qua hoạt động GATE ngoài nhà trường tại khoảng 50 nước và vùng lãnh thổ khắp các châu lục (rất tiếc, không có Việt Nam), từ những cuộc thi tìm kiếm tài năng tại Úc, Đức, Hoa Kỳ, Tây Ban Nha; các trung tâm năng khiếu và tài năng ở Brazil và Canada; cho tới khóa bồi dưỡng năng khiếu cuối tuần ở Nam Phi, hệ thống Cung thiếu nhi trên khắp Trung Quốc cho đến các chương trình đa dạng bồi dưỡng năng khiếu từ bậc tiểu học tại Israel – quốc gia đầu tư 10% ngân sách cho giáo dục…(xem kĩ bản mềm tại Freeman, 2002) Bản khảo sát thứ hai thực hiện năm 2010 – Khảo sát quốc tế về các hoạt động phát triển năng khiếu và tài năng toàn cầu – bằng phỏng vấn 850 chuyên gia về giáo dục tài năng và năng khiếu trên khắp thế giới, đã vẽ ra một bức tranh rất sống động về hoạt động bồi dưỡng cho học sinh năng khiếu và tài năng ở khắp các quốc gia và vùng lãnh thổ, qua đó đưa ra các xu hướng chính và khuyến nghị cần thiết. (tham khảo bản mềm tại Freeman, Raffan và Warwick, 2010)

c)     Hungary có thể nói là một đất nước của tài năng khi mà chỉ với dân số 10 triệu, cho đến nay có tới 13 nhà khoa học người Hung hoặc gốc Hung đạt giải Nobel. Họ triển khai rất mạnh mẽ các chương trình phát triển năng khiếu và tài năng trên toàn quốc (năm 2008 Quốc hội Hungary thông qua chương trình hỗ trợ phát triển tài năng trong 20 năm, và hơn 400 trung tâm/mô hình bồi dưỡng phát triển tài năng được thành lập triển khai từ năm 2007 đến nay, kết nối với nhau trong một mạng lưới thống nhất hỗ trợ lẫn nhau). Hungary cũng vừa là nước khởi xướng Ngày vì Tài năng toàn Châu Âu (sẽ nói rõ hơn ở mục 4. bên dưới) Và, họ cũng rất cầu thị khi vừa tổ chức một nhóm khảo sát tỏa đi khắp các nước gồm Áo, Phần Lan, Đức, Anh, Israel, Singapore, Slovenia, Tây Ban Nha và Hoa Kỳ để viết nên “Kinh nghiệm quốc tế trong hỗ trợ tài năng – Các mô hình tiêu biểu nhất trong và ngoài Châu Âu” dày 250 trang (tham khảo bản mềm bằng tiếng Anh sẵn có tại Győri, 2011). Đây chỉ là một trong 21 đầu sách công phu về giáo dục năng khiếu và tài năng mà họ mới xuất bản (chủ yếu bằng tiếng Hung, có sẵn bản mềm tại http://geniuszportal.hu/geniuszkonyvek) .

3.2.  Phát triển giáo dục năng khiếu và tài năng theo hướng mở, trong đó nhà trường hay ngành giáo dục nói chung chỉ là một mắt xích trong tổng thể các yếu tố nhà trường – gia đình – cộng đồng, cùng vun đắp phát triển tài năng với các nguồn lực đa dạng và linh hoạt

Cải tổ giáo dục nói chung theo nhiều ý kiến đã và đang bàn thảo, là việc không thể chỉ riêng của ngành chủ quản giáo dục . Thực tiễn chuyên ngành hẹp giáo dục năng khiếu và tài năng trên thế giới cũng vậy, các tổ chức tư nhân, các hiệp hội cha mẹ, các cộng đồng dân cư, các mạng lưới chuyên gia…đã và đang góp phần phát triển giáo dục tài năng và năng khiếu trên bình diện rộng. Có tới ít nhất 70 loại hình bồi dưỡng năng khiếu và tài năng khác nhau trên thế giới, từ trong gia đình ( homeschooling (dạy tại nhà, không tới trường), parenting ( làm cha mẹ – nuôi dạy con cái)) tới nhà trường (lớp chọn, trường chuyên, phân nhóm giỏi trội trong lớp, học nhảy lớp, học cấp tốc, lớp tuyển liên trường, học sinh kèm học sinh v.v…) và cả cộng đồng, xã hội (trực tuyến, chương trình hè, tham gia học một số môn với các anh chị sinh viên đại học, học tại bảo tàng/thư viện/triển lãm, trung tâm năng khiếu tư…). ( xem thêm danh mục tài liệu về các loại hình này tại Kim, 2011a). Những dấu hiệu của các cá nhân và tổ chức tư tham gia vào công tác phát triển tài năng (cả học thuật lẫn nghệ thuật, thể thao) tại Việt Nam đang khởi sắc (xem thêm Kim, 2009)  . Bởi vậy, việc phát triển giáo dục năng khiếu và tài năng thực sự là trách nhiệm và cũng là quyền tham dự của mọi đối tượng có khả năng và nguyện vọng trong xã hội. Nhà nước và các tổ chức đoàn thể có thể hỗ trợ cho việc “xã hội hóa” này bằng các chính sách như tôn vinh, gây quỹ, miễn giảm thuế, tín dụng ưu đãi, hỗ trợ cơ sở vật chất, phân bổ ngân sách hỗ trợ theo hình thức “đấu thầu”… Chúng ta có những “Ngày vì người Nghèo” rầm rộ trên các phương tiện thông tin đại chúng với các Mạnh thường quân ủng hộ tổng cộng lên đến hàng chục, hàng trăm tỷ đồng, lẽ nào không có những “Ngày vì người Tài”??? Tóm lại, về góc độ hoạch định chính sách, chúng ta cần “khơi thông dòng chảy” để các thuyền bè thoải mái đi lại và hướng ra biển lớn thay vì nhà nước tự tay đóng và điều khiển tất cả các loại tàu lớn nhỏ.

3.3.  Thiết lập mạng lưới và tăng cường nghiên cứu, ứng dụng trong nước và hợp tác quốc tế trong lĩnh vực giáo dục năng khiếu và tài năng.

Ở quy mô quốc gia, có không ít những nghiên cứu và đề xuất chính sách, chiến lược về năng khiếu và tài năng trong 30 năm qua. Có thể nêu ra một số: Đề tài “ Phát hiện và bồi dưỡng học sinh năng khiếu” (1987-1990 – Chủ nhiệm PGS.PTS Bùi Hiền); Đề tài “Chính sách đối với thanh thiếu niên có năng khiếu và tài năng” (1990 – Chủ nhiệm đề tài: GS.TS Hoàng Đức Nhuận –Viện trưởng Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam); Đề tài “Các con đường và hình thức phát hiện bồi dưỡng và phát huy các tài năng trong một số loại hình lao động” (1994 – Chủ nhiệm đề tài: PGS.TS Nguyễn Trọng Bảo). Gần đây là “Dự án thí điểm phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng nguồn nhân lực tài năng phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước” (2004 – ĐH Quốc gia Hà Nội được giao nhiệm vụ xây dựng, xem thêm Đào, 2007), trong đó có những mục tiêu mà cho đến hiện tại (2011 – thời điểm dự kiến kết thúc Dự án) chúng tôi chưa tiếp cận được thông tin để kiểm chứng tiến độ và kết quả:

“Trong vòng 5 năm (từ 2004-2010), dự án sẽ đào tạo cho đất nước 700 nhân lực tài năng, bao gồm 350 nhà khoa học công nghệ, trong đó có khoảng 35 nhà khoa học đầu ngành tầm cỡ khu vực về các ngành khoa học cơ bản, những ngành công nghệ cao và những ngành kinh tế-xã hội mũi nhọn; khoảng 175 doanh nhân tài năng, trong đó có nhiều doanh nhân tầm cỡ khu vực và 175 cán bộ lãnh đạo, nhà quản lý tài năng.” (Hoàng, 2004)

“…dự án phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng nguồn nhân lực tài năng sẽ được thực hiện từ nay đến năm 2011 với tổng số tiền là 325 tỉ đồng.

Ngoài ra, dự án sẽ nhận được trên 11,5 triệu USD (tính theo định mức thấp nhất) hoặc 45 triệu USD (tính theo định mức cao nhất) thông qua dự án đào tạo cán bộ khoa học tại nước ngoài bằng ngân sách nhà nước và các nguồn học bổng quốc tế.” (K.Hưng, 2004)

Mới đây hơn, vào tháng 3 năm 2011, Ban Tổ chức Trung ương Đảng Cộng Sản Việt Nam triển khai Đề tài độc lập cấp Nhà nước “Cơ sở lý luận và thực tiễn của chiến lược quốc gia về nhân tài trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” (xem thêm Hiền, 2011), hứa hẹn thêm một kỳ vọng mới cho công tác giáo dục năng khiếu và tài năng.

Rõ ràng là công tác triển khai thực hiện cũng như kế thừa phát triển, rà soát rút kinh nghiệm những mặt đạt được hay chưa đạt được của những nghiên cứu, đề xuất, đề án này; để biến các dự định tốt đẹp thành những hành động thiết thực mang lại lợi ích cụ thể, đã và đang là vấn đề tồn tại sâu sắc. Do vậy, việc ra đời một Viện hay Trung tâm nghiên cứu ứng dụng cấp quốc gia về vấn đề phát triển tài năng nói chung hay giáo dục năng khiếu, tài năng nói riêng là vấn đề cấp bách.  Từ đó, Trung tâm hay Viện này, cùng các Hiệp hội; Tổ chức đoàn thể xã hội hiện có như Hội Khoa học phát triển nguồn nhân lực và nhân tài Việt Nam (http://www.nhantai.org.vn/); Trung tâm phát triển khoa học, công nghệ và tài năng trẻ  (http://www.dstc.org.vn – trực thuộc TƯ Đoàn TNCS Hồ Chí Minh) và các tổ chức cùng mục đích, thiết lập các mối quan hệ trong nước và quốc tế cần thiết để vừa học hỏi, vừa đẩy mạnh hợp tác trong lĩnh vực này. Nếu có thể, chúng tôi đề xuất Hội khoa học phát triển nguồn nhân lực và nhân tài Việt Nam đứng ra làm đầu mối kết nối các trung tâm, tổ chức trong cùng lĩnh vực, tạo ra một mạng lưới kết nối chặt chẽ và làm cầu nối đối với các mạng lưới tương tự của các quốc gia khác trên thế giới.

Ở quy mô quốc tế, có thể kể ra một số tổ chức tiêu biểu để chúng ta thiết lập quan hệ và/hoặc gia nhập với tư cách thành viên hay đối tác như:

Hội đồng thế giới về trẻ em năng khiếu và tài năng (https://world-gifted.org/): Đây là tổ chức lớn nhất tầm toàn cầu về giáo dục năng khiếu và tài năng, được thành lập năm 1975 tại Anh.

Liên đoàn Châu Á Thái Bình Dương về năng khiếu: http://www.apfgifted.org/apf/ : Tổ chức phát triển và giáo dục trẻ em năng khiếu và tài năng trong khu vực Châu Á Thái Bình Dương, thành lập năm 1990 và hiện có các thành viên đến từ các quốc gia và vùng lãnh thổ: Australia, Trung Quốc, Hồng Kông, Ấn Độ, Indonesia, Malaysia, New Zealand, Philippines, Ả-rập Xê-út, Singapore, Hàn Quốc, Đài Loan, Thái Lan và Các tiểu vương quốc Ả rập thống nhất. (chưa có Việt Nam!)

Hiệp hội quốc gia về trẻ em năng khiếu của Hoa Kỳ ( www.nagc.org): Là tổ chức mạnh mẽ và đông đảo số 1 thế giới trong việc thúc đẩy nhận thức, vận động chính sách cũng như hỗ trợ nghiên cứu và ứng dụng trong giáo dục năng khiếu và tài năng. (sẽ đề cập cụ thể hơn ở mục 4 bên dưới).

4. Mô hình gợi ý cho hợp tác trong khu vực ASEAN trong lĩnh vực GATE

ASEAN đang từng bước tiến tới thiết lập mô hình Cộng đồng ASEAN trong tương lai gần, từ đó nảy sinh nhu cầu thiết lập những liên kết hợp tác đa dạng trong các lĩnh vực cụ thể, mà giáo dục năng khiếu và tài năng là một ví dụ sống động và thiết thực cho sự phát triển của các nước thành viên. Việt Nam cần chủ động tham gia thiết lập các tổ chức và hoạt động mang tầm khu vực trên cơ sở học hỏi các kinh nghiệm của thế giới.

4.1 NAGC – Hiệp hội quốc gia về trẻ em năng khiếu (Hoa Kỳ), với mô hình một Hiệp hội liên bang. (http://nagc.org/)

Dù  toàn bộ 50 bang của Hoa Kỳ đều có Hiệp hội giáo dục năng khiếu, tài năng cũng như hàng trăm tổ chức, trung tâm nghiên cứu và ứng dụng trong lĩnh vực, Hiệp hội quốc gia NAGC vẫn là một thực thể có những  hoạt động, tiếng nói và kết nối mang tầm liên bang, với mục tiêu hỗ trợ và thúc đẩy phát triển các chính sách và mô hình thực tiễn để phát triển tài năng và năng khiếu của thanh thiếu nhi Hoa Kỳ. Có thể nêu ra một số hoạt động tiêu biểu của Hiệp hội quốc gia này: (1)Thiết lập tiêu chuẩn chung:  cho các khái niệm căn bản; cho các chương trình giáo dục năng khiếu và tài năng từ mẫu giáo cho tới hết lớp 12; cho các  chương trình đào tạo giáo viên trong lĩnh vực năng khiếu và tài năng; cho các chương trình đào tạo sau đại học về lĩnh vực giáo dục năng khiếu và tài năng; (2) Phát triển các mạng lưới chuyên sâu : Phân theo khu vực địa lý, phân theo chủ đề nghiên cứu và thực tiễn hoặc phân theo đối tượng (nghiên cứu sinh, giáo viên, phụ huynh, nhà quản lý giáo dục…); (3) Nghiên cứu và phát triển: Qua các ấn bản chuyên đề, các sách và tài liệu chuyên ngành, các nghiên cứu liên bang, các hội thảo, khóa bồi dưỡng cho chuyên gia và trẻ em năng khiếu, tài năng.; (4) Vận động chính sách: Nâng cao nhận thức xã hội, vận động các nhà lập pháp cấp tiểu bang cũng như các nghị sỹ của lưỡng viện quốc hội Hoa Kỳ đề xuất và phê chuẩn các chính sách phát triển giáo dục năng khiếu và tài năng; (5) Xây dựng và phát triển các Quỹ hỗ trợ : Hỗ trợ giáo viên, tư vấn viên, nhà vận động chính sách, nhà quản lý giáo dục, giải thưởng cho học sinh xuất sắc…

Một Liên đoàn về giáo dục năng khiếu và tài năng khu vực ASEAN, trên cơ sở kết nối các Hiệp hội quốc gia (mà ở Việt Nam có thể là Hội khoa học phát triển nguồn nhân lực và nhân tài Việt Nam) là một khả năng hiện thực. Với mô hình và hoạt động tham khảo từ NAGC đã nêu ở trên, hiệp hội khu vực này (có thể mang tên ASEAN Federation of Giftedness and Talent, viết tắt là AFGT) như một mạng lưới hỗn hợp các thành viên khối nhà nước và tư nhân, cũng như các tổ chức phi lợi nhuận và các cá nhân vì mục tiêu học hỏi, chia sẻ, hỗ trợ và cùng hợp tác đẩy mạnh phát triển năng khiếu, tài năng của khu vực.

4.2  GERRIC – Trung tâm nghiên cứu và cung cấp ứng dụng về Giáo dục tài năng (Úc), với mô hình là một trung tâm hàng đầu nghiên cứu, phát triển trong lĩnh vực này, trực thuộc một trường Đại học trong một nhà nước liên bang. (http://gerric.arts.unsw.edu.au/)

Chính thức thành lập năm 1997, Trung tâm thông tin, hỗ trợ và nghiên cứu giáo dục năng khiếu GERRIC ( ĐH New South Wales, Úc) là trung tâm đầu tiên tại Nam Bán Cầu trong triển khai nghiên cứu, giảng dạy và cung cấp các dịch vụ hỗ trợ giáo dục năng khiếu.

Bên cạnh công tác nghiên cứu chuyên sâu về giáo dục năng khiếu và tài năng, Trung tâm còn đảm nhiệm giảng dạy và hướng dẫn nghiên cứu sinh, học viên cao học và cung cấp các khóa đào tạo ngắn hạn cho các giáo viên đang dạy các chương trình tài năng, năng khiếu tại Úc, New Zealand, Hồng Kông, Singapore, Hàn Quốc… Điểm đặc biệt, Trung tâm cũng triển khai các khóa bồi dưỡng năng khiếu ngắn hạn cho học sinh năng khiếu. Trung tâm cũng là cơ quan được Chính phủ và Bộ Giáo dục Úc “đặt hàng” biên soạn bộ tài liệu tập huấn cho giáo viên đang giảng dạy năng khiếu và tài năng trên toàn nước Úc cũng như các khóa bồi dưỡng kiến thức trong lĩnh vực cho các phụ huynh học sinh năng khiếu. Ảnh hưởng của Trung tâm GERRIC lên các chính sách về giáo dục năng khiếu và tài năng của bang New South Wales (Úc) là rất đáng ghi nhận: các chính sách, hướng dẫn căn bản của tiểu bang trong lĩnh vực này đều có sự tham vấn hỗ trợ về chuyên môn của Trung tâm. Ở góc độ hợp tác quốc tế, Trung tâm cũng kết nối hợp tác nghiên cứu và trao đổi học giả với các Trung tâm hàng đầu khác.

Học tập mô hình Trung tâm này, ASEAN có thể tiến hành thành lập một Trung tâm tương tự trực thuộc một trường ĐH hàng đầu, và tốt nhất là có thế mạnh sẵn có về nghiên cứu và hợp tác khu vực và quốc tế trong giáo dục. Viện quốc gia về Giáo dục – trực thuộc ĐH Nanyang – Singapore (http://www.nie.edu.sg) có thể là một ứng viên đỡ đầu cho sự ra đời của Trung tâm này.

4.3  TalentDay – Ngày vì Tài năng, thúc đẩy  sự phát triển của lĩnh vực giáo dục năng khiếu và tài năng toàn Châu Âu, với mô hình một cuộc vận động mang tính khu vực như Liên minh Châu Âu, tương tự như Cộng đồng ASEAN (ASEAN Community) trong tương lai.

Từ năm 2006, Hungary  cùng với vài nước láng giềng Slovakia, Ru-ma-ni và Serbia  đã tổ chức các Ngày vì Tài năng hàng năm. Đứng vai trò là Chủ tịch EU trong nhiệm kỳ 6 tháng đầu năm 2011, mới đây Hungary đã khởi xướng Ngày vì Tài năng toàn Châu Âu (www.TalentDay.eu). Đây là một chuỗi các hoạt động (Hội thảo; Bàn tròn; Triển lãm các mô hình điểm; Trình diễn của các tài năng trẻ; Ngày vì Tài năng Châu Âu; Ra tuyên bố chung…) để từ đó nâng cao nhận thức của nhân dân và chính giới toàn Châu Âu trong việc hỗ trợ và phát triển tài năng trong khu vực cũng như tạo dựng và tăng cường mạng lưới học hỏi, hợp tác giữa các thành viên của Liên minh Châu Âu trong lĩnh vực phát triển tài năng.

ASEAN có thể tiến hành hoạt động này để tiến tới thành lập một  Liên đoàn của Khu vực trong lĩnh vực năng khiếu và tài năng. Trên thực tế, Tổ chức Bộ trưởng Giáo dục các nước Đông Nam Á (SEAMEO)  vào năm 2009 đã chấp thuận thành lập một Trung tâm khu vực về giáo dục đặc biệt tại Malaysia (SEAMEO Regional Centre for Special Education – bao gồm cả giáo dục cho trẻ em khuyết tật và năng khiếu, tài năng). Tuy mới đi vào hoạt động từ cuối năm 2010, nhưng với vị thế của mình (trực thuộc SEAMEO) và địa điểm đặt tại một đất nước đang có những hoạt động mạnh mẽ trong giáo dục năng khiếu, tài năng như Malaysia, việc Trung tâm này khởi tạo một cuộc vận động mang tính khu vực như mô hình TalentDay của Châu Âu là một khả năng có thể đạt được. (Lưu ý, theo chúng tôi, Trung tâm này không thể thay thế một Trung tâm nghiên cứu phát triển nằm trong một trường Đại học tiên tiến của khu vực mà chúng tôi đã đề cập trong mục 4.2)

 

Tóm lại, chúng tôi xin đề xuất 3 điểm đối với phát triển giáo dục năng khiếu và tài năng tại Việt Nam và 3 điểm đối với ASEAN trong bối cảnh từ năm 2015 trở về sau có sự gắn chặt về phát triển kinh tế – xã hội của các nước này, với tầm nhìn  Cộng đồng ASEAN  trong tương lai không xa.

A)   Với Việt Nam:

1.     Thiết lập một Viện hay Trung tâm nghiên cứu – ứng dụng cấp quốc gia về phát triển tài năng (có thể trực thuộc trường ĐH Sư phạm Hà Nội). Nhiệm vụ của Viện hay Trung tâm này là tạo dựng nền tảng lý luận về giáo dục năng khiếu và tài năng trên cơ sở đúc kết các lý thuyết, mô hình đã và đang áp dụng trên thế giới. Từ đó, Trung tâm hay Viện này, cùng các Hiệp hội; Tổ chức đoàn thể xã hội hiện có như Hội Khoa học phát triển nguồn nhân lực và nhân tài Việt Nam (http://www.nhantai.org.vn/); Trung tâm phát triển khoa học, công nghệ và tài năng trẻ  (http://www.dstc.org.vn – trực thuộc TƯ Đoàn TNCS Hồ Chí Minh) và các tổ chức cùng mục đích, thiết lập các mối quan hệ trong nước và quốc tế cần thiết để vừa học hỏi, vừa đẩy mạnh hợp tác trong lĩnh vực này.

2.     Rà soát, sửa đổi Luật Giáo dục 2005, tạo điều kiện cho việc tái thành lập các mô hình bồi dưỡng học sinh năng khiếu tại cấp tiểu học và THCS, tái thành lập các Kỳ thi Học sinh giỏi quốc gia lớp 5 và lớp 9.

3.     Thiết lập Cục Đào tạo phát triển tài năng như dự kiến của Bộ Giáo dục và Đào tạo từ năm 2007. Cục sẽ quản lý về nhà nước với hệ thống trường chuyên và các kì thi Học sinh giỏi các cấp; cũng như tham khảo ý kiến của các Viện/Trung tâm, nhà chuyên môn và phụ huynh học sinh trong lĩnh vực này, để đề xuất ban hành các chủ trương, chính sách phát triển tài năng.

B)    Với ASEAN:

1. Thành lập Liên đoàn về giáo dục năng khiếu và tài năng khu vực ASEAN, trên cơ sở kết nối các Hiệp hội quốc gia (mà ở Việt Nam có thể là Hội khoa học phát triển nguồn nhân lực và nhân tài Việt Nam) là một khả năng hiện thực. Với mô hình và hoạt động tham khảo từ NAGC đã nêu ở trên, hiệp hội khu vực này (có thể mang tên ASEAN Federation of Giftedness and Talent, viết tắt là AFGT) như một mạng lưới hỗn hợp các thành viên khối nhà nước và tư nhân, cũng như các tổ chức phi lợi nhuận và các cá nhân vì mục tiêu học hỏi, chia sẻ, hỗ trợ và cùng hợp tác đẩy mạnh phát triển năng khiếu, tài năng của khu vực.

2. Thành lập một Trung tâm nghiên cứu và ứng dụng phát triển tài năng khu vực ASEAN, trực thuộc một trường ĐH hàng đầu, và tốt nhất là có thế mạnh sẵn có về nghiên cứu và hợp tác khu vực và quốc tế trong giáo dục. Viện quốc gia về Giáo dục – trực thuộc ĐH Nanyang – Singapore (http://www.nie.edu.sg) có thể là một ứng viên đỡ đầu cho sự ra đời của Trung tâm này.

3. Trên thực tế, Tổ chức Bộ trưởng Giáo dục các nước Đông Nam Á (SEAMEO)  vào năm 2009 đã chấp thuận thành lập một Trung tâm khu vực về giáo dục đặc biệt tại Malaysia (SEAMEO Regional Centre for Special Education – bao gồm cả giáo dục cho trẻ em khuyết tật và năng khiếu, tài năng). Tuy mới đi vào hoạt động từ cuối năm 2010, nhưng với vị thế của mình (trực thuộc SEAMEO) và địa điểm đặt tại một đất nước đang có những hoạt động mạnh mẽ trong giáo dục năng khiếu, tài năng như Malaysia, việc Trung tâm này có thể khởi tạo một cuộc vận động “Ngày ASEAN về phát triển tài năng” mang tính khu vực như mô hình TalentDay của Châu Âu là một khả năng có thể đạt được.

 

Ghi chú: Bài viết trên cơ sở tổng hợp tham luận tại Hội thảo Tạo dựng môi trường khác biệt thích hợp cho trẻ em năng khiếu của Hội đồng thế giới về trẻ em năng khiếu và tài năng (Praha- Cộng hòa Séc – tháng 8 năm 2011) và Hội thảo Việt Nam và các nước ASEAN trước thử thách (Singapore – tháng 8 năm 2011). Bài viết có mặt trong ký yếu Hội thảo khoa học “Công tác nhân tài ở Việt Nam- Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” (Hà Nội – tháng 9 năm 2011). Chúng tôi chưa đề cập tới các chương trình “Cầu hiền” của các địa phương, công tác bồi dưỡng tài năng trẻ nghệ thuật, thể thao hay các giải thưởng, học bổng trong nước và du học quốc tế cho các tài năng trẻ hay học sinh giỏi bởi tham luận này tập trung vào khâu “giáo dục, bồi dưỡng” về học thuật ở lứa tuổi học đường. Ở một bức tranh lớn hơn, những nghiên cứu, thống kê hay đề xuất riêng biệt hoặc tổng thể về phát hiện, tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng, ưu đãi, trọng dụng (không phải sử dụng) tài năng (ở các độ tuổi và lĩnh vực khác nhau) tại Việt Nam và trên thế giới là rất cần thiết.Việc cập nhật với tình hình hiện tại (2013) và đối chiếu với những chi tiết đề cập tới giáo dục năng khiếu và tài năng trong Đề án  “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu côngnghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện  kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”(2013) cũng rất cần thiết trong bối cảnh mới hiện nay.

 

Kim Ngọc Minh

Thạc sỹ giáo dục, Đại học New South Wales, Úc.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH

 

Bảo, A. (2007). 9 chương trình bồi dưỡng nhân tài. Chi  tiết: http://vnn.vietnamnet.vn/giaoduc/2007/09/741021/.

Chinhphu.vn. (2010). Đề án Phát triển hệ thống trường trung học phổ thông chuyên giai đoạn 2010 – 2020. Chi tiết: http://vanban.chinhphu.vn/portal/page/portal/chinhphu/hethongvanban?class_id=1&mode=detail&document_id=95359 .

Đào, T. T. (2007). Việt Nam với chiến lược nhân tài. Chi tiết: http://tintuc.vnu.edu.vn/ttsk/?C1654/N2597/Viet-Nam-voi-chien-luoc-nhan-tai.htm.

Đào, T. T. (2009). Mô hình cử nhân tài năng thuở phôi thai. Chi tiết: http://honorsprogram.wordpress.com/2009/02/22/mo-hinh-cử-nhan-tai-nang-thuở-phoi-thai/#more-83.

Đào, V. V., Nguyễn, T. Q., Trịnh, T. A. H., Lê, V. A., & Hà, B. T. (2004). Nghiên cứu đánh giá quy trình tuyển chọn học sinh vào trường chuyên THPT. Hà Nội: Viện Chiến lược và Chương trình giáo dục.

ĐH Bách khoa Hà Nội. (2011). Lịch sử hình thành & phát triển TT Đào tạo tài năng và chất lượng cao. Chi tiết: http://ctes.hut.edu.vn/lich-su.

Freeman, J. (2002). Out-of-school educational provision for the gifted and talented around the world. Education. London. Chi tiết:http://www.joanfreeman.com/pdf/Text_part_one.pdf.

Freeman, J. (2011). What the world does for the gifted and talented. Chi tiết: http://www.conference2011.talentday.eu/sites/all/files/images/tartalomkepek/honlapra%20Prof%20JFreeman%20paper%20for%20Budapest%208%20April%2011_3.pdf

Freeman, J., Raffan, J., & Warwick, I. (2010). Worldwide provision to develop gifts and talents – An international survey. London. Chi tiết:http://hkage.org.hk/en/download/Teacher/Resources/LearningTeachingResources/ProvisionsLT/Tower_Report_2010.pdf.

Gagné, F. (2009). Building gifts into talents : Brief overview of the DMGT 2.0. Chi tiết: http://www.giftedconference2009.org/presenter_files/gagne_p12_therealnature.pdf.

Győri, J. G. (Ed.). (2011). International Horizons of Talent Support – Best Practices Within and Without the European Union. Magyar Tehetségsegítő Szervezetek Szövetség. Chi tiết: http://geniuszportal.hu/sites/default/files/18_kotet_net+color.pdf.

Hiền, H. (2011). Xây dựng chiến lược quốc gia về nhân tài trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Chi tiết:http://www.cpv.org.vn/cpv/Modules/News/NewsDetail.aspx?co_id=30077&cn_id=452686.

Hoàng, L. A. (2004). 45 triệu USD để đào tạo 700 nhân tài. Chi tiết: http://nld.com.vn/96864p0c1002/45-trieu-usd-de-dao-tao-700-nhan-tai.htm.

Hoàng, T. (2009). Kiến nghị cải cách, hiện đại hóa giáo dục. Chi tiết: http://www.ndanghung.com/bai-viet/2011/04/02/ban-kien-nghi-ve-giao-duc-cua-gs-hoang-tuy-ma-chua-duoc-nhieu-nguoi-biet.html/.

Hồ, T. B., Trần, N. B., Trần, H. D., Ngô, V. L., Trần, H. Q., Hồng, L. T., et al. (2008). Đề án cải cách giáo dục Việt Nam – Phân tích và đề nghị của nhóm nghiên cứu giáo dục Việt Nam. Chi tiết: http://www.tapchithoidai.org/ThoiDai13/200813_NhomNghienCuu.htm.

Hồng, H. (2010). Đề án 2.300 tỷ đồng phát triển trường chuyên: Đầu tư chưa công bằng! Chi tiết: http://dantri.com.vn/c25/s25-439471/de-an-2300-ty-dong-phat-trien-truong-chuyen-dau-tu-chua-cong-bang.htm.

K.Hưng. (2004). Nhân tài đang ở đâu? Chi tiết: http://diaoc.tuoitre.vn/Index.aspx?ArticleID=43041&ChannelID=3.

Kim, N. M. (2009). Từ Đồ Rê Mí đến giáo dục Việt Nam. Chi tiết:  http://on.fb.me/1a9m24H

Kim, N. M. (2011a). Academically Gifted Programs and Services’ Formats – an annotated bibliography. Chi tiết: http://unsw.academia.edu/KimMinh/Papers/700499/Academically_Gifted_Programs_and_Services_Formats_-_an_annotated_bibliography.

Kim, N. M. (2011b). Gifted Education in Vietnam and ASEAN – The need of regional cooperation in research and practice. (thuyết trình tại Hội thảo Tạo dựng môi trường khác biệt thích hợp cho trẻ em năng khiếu của Hội đồng thế giới về trẻ em năng khiếu và tài năng (Praha- Cộng hòa Séc – tháng 8 năm 2011))

Kim, N. M. (2011c). Gifted Education – Vietnam and international perspectives. Chi tiết: http://www.1vietnamedu.com/2011/06/gifted-education-vietnam-and.html.

NAGC. (2011). What is Giftedness? Chi tiết: http://www.nagc.org/index.aspx?id=574.

Nguyễn, H. (2009). Trường THPT chuyên sẽ là mẫu hình tương lai của các trường THPT. Chi tiết: http://www.gdtd.vn/channel/2741/200912/Truong-THPT-chuyen-se-la-mau-hinh-tuong-lai-cua-cac-truong-THPT-1920322/.

Nguyễn, V.N. (2008). Lại thêm một đề xuất về cải cách giáo dục. Chi tiết: http://vietbao.vn/Trang-ban-doc/Lai-them-mot-de-xuat-ve-cai-cach-giao-duc/20801729/478/.

Nguyễn, V.N. (2011). Đào tạo cử nhân khoa học tài năng, chất lượng cao ở Đại học Quốc gia Hà Nội. Chi tiết:http://tintuc.vnu.edu.vn/ttsk/?C1654/N5787/dao-tao-cu-nhan-khoa-hoc-tai-nang,-chat-luong-cao-o-dai-hoc-Quoc-gia-Ha-Noi.htm.

Phạm, M. H. (2010). Tiếp tục đổi mới hệ các trường chuyên theo quỹ đạo khoa học. Chi tiết: http://nhantainhanluc.com/vn/401/3285/contents.aspx.

Trần, N. B. (2006). Đổi mới giáo dục tại Việt Nam – Một vài nhận định từ quan điểm chính sách kinh tế. Chi tiết: http://vietsciences.free.fr/vongtaylon/giaoduc/doimoigiaoductaivietnam.htm.

Tôn, T., Tô, G., Lê, Q. P., Nguyễn, H. T., Đỗ, N. T., & Nguyễn, N. T. (1997). Nghiên cứu về vị trí, mục tiêu và định hướng của trường chuyên hệ trung học. Hà Nội: Viện Khoa học Giáo dục.

Viện Nghiên cứu Phát triển IDS. (2009). Kiến nghị Cải cách, hiện đại hóa giáo dục. Hà Nội. Chi tiết: http://niemtin.free.fr/kiennghigiaoduc.htm.

Tagged as:

Categorised in: Nghĩ về việc học và dạy, Triết lý, Vai trò của xã hội dân sự

15 phản hồi »

  1. Tác giả Kim Ngọc Minh đã tổng hợp rất nhiều thông tin và có so sánh các mô hình “đào tạo” và bồi dưỡng học sinh có năng khiếu ở cả tầm quốc tế.
    Mình thì thấy thiếu một khía cạnh khá quan trọng, đó là chủ trương bồi dưỡng cái tài năng trẻ ở VN như thế nào cho đúng theo nghĩa bồi dưỡng. Ở đây theo như mình nghĩ thì bồi dưỡng tài năng không phải là việc đào tạo một đội ngũ đi thi học sinh giỏi, thi Olympic đạt giải cao, xếp hạng Top Ten như bạn viết theo phương châm “(đ)ã đi thi là phải hướng tới mục tiêu đoạt giải cao…”. Mà quan trọng hơn cả là làm sao phát hiện được tài năng của từng em một, khuyến khích và bồi dưỡng tài năng phù hợp với sự phát triển tâm sinh lý, nguyện vọng cá nhân, chứ không phải “đào tạo” thành các học sinh đoạt giải cao trong các kỳ thi. Bởi vì sau khi đoạt giải và hết tuổi tham dự các kỳ thi thì “những tài năng đó” lại phải ra nước ngoài để mới có được sự bồi dưỡng thực sự, sự phát triển tài năng thực sự. Nếu xem bảng xếp hạng các nước có học sinh đoạt giải thi Olympic Toán QT thì VN đâu phải đạt KQ kém, mà còn hơn mấy nước Thụy Điển, Phần Lan, Đan Mạch và Na-Uy cả sáu bảy chục bậc. Nhưng tại sao nước VN ta vẫn bị liệt vào nước TG thứ 3 nghèo nàn và lạc hậu, trong khi mấy nước Bắc Âu đó không bắt buộc HS đi thi là phải đoạt giải vàng hay bạc, nhưng họ đều là nước công nghiệp, văn minh tiến bộ gấp ngàn lần VN.

    Vậy chẳng lẽ VN tiếp tục kiểu đào tạo tài năng như gà chọi ư, để đi thi đấu, để làm người thắng trong cuộc thi? Muốn được xếp hạng nhất như Trung Quốc thì phải trả giá đắt như thế nào, chắc bạn cũng biết: học sinh đi học trường chuyên nội trú, bị cắt đứt cả quan hệ với gia đình và người thân, đào tạo ra các “nhân tài” trên người treo đầy huân chương vàng bạc, nhưng khi hết tuổi thì bị thải ra không thương tiếc, để nhường chỗ cho lớp trẻ đi sau. Đây là điều mà phương Tây luôn chỉ trích cách đào tạo tài năng ở Trung Quốc. Thành ra ở Tây Âu, việc các trường PT dành riêng cho học sinh năng khiếu thường là do các hiệp hội hoặc tư nhân thành lập. Họ tôn trọng sở thích của các em, tạo mối quan hệ mật thiết với gia đình để trao đổi về cách giáo dục và bồi dưỡng tài năng sao cho hợp lý nhất. Điều kỵ nhất là bơm thuốc kích thích cho hoa nở nhanh, rồi cũng tàn nhanh. Điều được đánh giá cao và phải làm là tạo một môi trường phát triển tài năng sao cho tự nhiên, có được khoảng không tự do phát triển về tư tưởng, sáng tạo. Như vậy mới là bồi dưỡng nhân tài cho một quốc gia một cách lành mạnh! Rồi sự trọng dụng người tài cũng phải được xem xét lại. Phải trọng dụng người tài dựa vào khả năng chuyên môn, tâm huyết của họ, cho dù họ có chính kiến khác. Người có tài năng thực sự bao giờ cũng có chính kiến và họ chỉ cống hiến tài năng và sức lực cho một quốc gia tôn trọng và thực hiện quyền cơ bản của con người!

    Số lượt thích

    • Cảm ơn Thanh Hải đã chia sẻ và góp ý. Phần đầu của bài viết, khi nói về các đội tuyển đi thi quốc tế tôi nhấn mạnh rằng đã đi thi thì phải quyết tâm đạt giải cao, thì cũng là làm gì cho đến nơi đến chốn thôi. Tất nhiên yếu tố quan tâm phát triển năng lực phù hợp cho các em học sinh giỏi khác, nhất là các em không nằm trong đội tuyển, vốn chiếm phần lớn trong hệ thống trường chuyên lớp chọn hiện nay, là rất quan trọng. Khi đó, trong khi hệ thống trường chuyên chưa xoay chuyển đáp ứng được ngay thì các mô hình “dân lập” như FYT có thể là một câu trả lời ban đầu. Về lâu dài, việc học hỏi một cách thực chất các mô hình quốc tế là cần thiết. Ví dụ như Thanh Hải đưa ra trường hợp các trường chuyên nội trú của Trung Quốc “bị cắt đứt cả quan hệ với gia đình và người thân”, thì ở Mỹ cũng có ngót 20 trường nội trú công lập cho học sinh giỏi môn khoa học tự nhiên. Cùng một mô hình về vỏ, nhưng việc học hỏi cách triển khai như thế nào mới là vấn đề, từ đó cải tiến “ruột”, theo tôi là như vậy. Bạn đọc phần 3.2 ở bài viết trên và phần tham khảo như tôi đã dẫn ở đây http://bit.ly/1cmpoc9 , thì những mô hình nhà trường công lập như vậy chỉ là một phần nhỏ trong tổng thể chung, và đó cũng chính là ý của Thanh Hải: “Họ tôn trọng sở thích của các em, tạo mối quan hệ mật thiết với gia đình để trao đổi về cách giáo dục và bồi dưỡng tài năng sao cho hợp lý nhất. “

      Số lượt thích

      • Mình cũng xin cám ơn bạn Kim Minh đã dẫn chứng và giải đáp một số ý mình thắc mắc. Tuy vậy có nhiều vấn đề mình càng nghĩ càng thấy nhiều mâu thuẫn về việc bồi dưỡng và trọng dụng tài năng (trẻ) ở VN từ trước tới nay, nhưng có lẽ do gốc rễ của vấn đề nằm sâu ở quan điểm giáo dục đang tồn tại ở VN, nên cũng khá phức tạp.
        Nếu mình không nhầm thì bạn Kim Ngọc Minh cũng là một tài năng nổi danh, từng học chuyên Lý trường Amsterdam ở HN và đoạt giải trong cuộc thi Thắp Sáng Tài Năng Kinh Doanh Trẻ 2003 với ý tưởng tạo ra “mô hình đào tạo cha mẹ tài năng”. Năm 2004 bạn thành lập công ty phát triển tài năng T-Kid với “mong muốn góp phần xây dựng một thế hệ tương lai Việt Nam khoẻ mạnh, năng động, sáng tạo” ( Theo http://vietbao.vn/The-gioi-giai-tri/Minh-cua-nhung-y-tuong-doc/55149364/402/http://www.tienphong.vn/Gioi-Tre/502716/Lam-thue-chuyen-nghiep.html ) Giờ đây ngoài công việc nghiên cứu bạn cũng tham gia sáng lập và quản lý trường mầm non To-mo-e theo mô hình của Nhật Bản theo quan điểm “tôn trọng và săn sóc mỗi trẻ như một công dân toàn cầu nhỏ tuổi độc lập với những thiên hướng và lộ trình phát triển tài năng riêng” ( http://tomoe.edu.vn/vi-vn/Category/p-4-Gioi-thieu-Mam-non-To-mo-e.aspx )
        Vậy qua những kinh nghiệm thực tiễn đó bạn có thể viết một số nhận xét cá nhân về việc áp dụng mô hình nào (trong số 70 loại hình bồi dưỡng tài năng, năng khiếu khác nhau trên TG) vào VN mà có tính khả thi nhất, phù hợp với điều kiện XH, KT và chính trị hiện tại. Theo mình thì 3 mô hình mà trong bài viết bạn chỉ ra là VN có thể học hỏi như của Úc, Anh và Hung sẽ gặp nhiều khó khăn khi thực hiện vì cơ sở hạ tầng cũng như kiến trúc thượng tầng ở VN khác hẳn các nước đó. Mình cũng chưa thấy bạn đề cập đến mô hình của Nhật Bản trong bài viết (bạn viết từ năm 2012). Mong nhận được ý kiến của bạn!

        Số lượt thích

      • Bạn Kim Minh thân mến, mình có gửi lời cảm ơn và có thêm một ý kiến nhờ bạn giải thích gíúp rồi, nhưng vì trong phản hồi đó có chứa nhiều links nên phải đợi quá trình xét duyệt của admins. Chắc sẽ sớm hiện ra thôi!

        Số lượt thích

      • Xin cảm ơn Thanh Hải, tôi comment vào đây trả lời Thanh Hải nhé:
        Về mô hình Mầm non Tô-mô-e đó, thì quả thực đây là mầm non bình thường cho các cháu bình thường, chưa phải là mầm non năng khiếu cho các cháu có khả năng nổi trội. Còn sự hướng tới việc “lộ trình phát triển tài năng riêng” là khi tôi chắc chắn hơn về triển khai mô hình ở cấp mầm non, có lẽ là ở thì tương lai, mà thông điệp đó như là một tầm nhìn.
        Trong các mô hình được kể, thì gắn với hiện tại ở Việt Nam, theo tôi việc hỗ trợ triển khai các CLB sở thích, CLB kỹ năng mềm, CLB dã ngoại, CLB hướng nghiệp… cho học sinh các trường chuyên là một khả năng có thể thực hiện được ngay. Ngoài nội dung hoạt động của các CLB để khiến các em có sự phát triển cân bằng hơn, các em còn tự trui rèn kỹ năng tổ chức, kỹ năng lãnh đạo, kỹ năng làm việc cùng nhau… Mô hình Singapore cũng có thể tham khảo: ví dụ học sinh chuyên Toán có thể học rất sâu cùng nhau về môn Toán, còn các môn khác, và đặc biệt tham gia các dự án tình nguyện thì “hoà nhập” cùng các bạn khác. Trào lưu các khoá học mở trực tuyến (MOOCs) cũng rất hứa hẹn, trong đó các em học sinh giỏi có thể tiếp cận trực tiếp các khoá học trên mạng theo mối quan tâm và khả năng của mình. Phụ huynh, theo tôi, là “pháo đài” cuối cùng để “bảo vệ” trẻ em trong “khủng hoảng” giáo dục hiện nay; nên homeschooling hay gifted parenting cũng có thể là một cách thức hợp lý (mới xuất hiện gần đây các CLB phụ huynh chia sẻ cách nuôi dạy con). Tất nhiên trong một comment ngắn thế này thì đó là một vài ý xuất hiện luôn lúc này thôi, còn sâu hơn kĩ hơn thì cần thời gian hơn.
        Tôi không đề xuất mình phải “theo” hẳn một nước nào, nhưng với mỗi nét nhỏ, cụ thể đã được áp dụng ở bên ngoài mà có hiệu quả, và nếu có điều kiện ban đầu thì có thể triển khai thí điểm trong nước, ví dụ mô hình Quỹ hỗ trợ các trường chuyên như Philippines.
        Nhật Bản có nhiều đặc thù nên việc nghiên cứu cũng không đơn giản, tôi sẽ đề cập khi có điều kiện tìm hiểu cụ thể.

        Số lượt thích

  2. Đọc phản hồi của Thanh Hải, «được lời như cỡi tấm lòng», tôi mới dám viết lên ý của mình…

    Báo Dân Trí đã nhờ tôi viết một số bài về IQ, về EQ, về SQ, về đủ thứ thông minh, …
    http://dantri.com.vn/ban-doc/ngay-xuan-man-dam-ve-su-thong-minh-va-chi-so-iq-454609.htm
    http://dantri.com.vn/ban-doc/chi-so-thong-minh-cam-xuc-eqemotional-quotient-488583.htm

    Tôi cũng đã viết về trường chuyên
    http://huynhmai.org/2013/04/25/thi-cu-xep-hang-va-truong-chuyen/

    và tôi cũng suy nghĩ như Thanh Hải. Suốt đời tôi đã tranh đấu cho học trò được hạnh phúc ở trường, cho một giáo dục khai phóng, tạo điều kiện cho trẻ phát triển, … trong sự tôn trọng bản thể của chúng.

    Những khoa học gia lớn đóng góp rất nhiều cho nhân loại – chúng ta đang ở vào «mùa» Nobel mà – nhưng cứ nhìn kỹ mà xem, các nhà khoa học này có xuất thân từ các trường chuyên lớp chọn không (xin lỗi anh Ngô bảo Châu, tôi biết ngày xưa anh học chuyên Toán !).

    Tôi chỉ mong là một ngày nào đó ta không còn phân biệt những trẻ «năng khiếu» hay «tiềm năng cao» và những trẻ khác. Mà ta sẽ nói như ông Albert Jacquard rằng «đại đa số trẻ sinh ra bình thường đều có tiềm năng trí tuệ, môi trường sống phải làm sao để phát triển, biến tiềm năng ấy thành khả năng».

    Trường học có vai trò đó. Cho tất cả mọi trẻ.

    Số lượt thích

    • Cháu rất vui vì cô Mai hôm nay lại quay trở lại trang HTN để chúng cháu có thể tiếp tục được nghe những ý kiến của cô với tư cách là giáo sư nghiên cứu và giảng dạy môn xã hội học. Những bài viết của cô luôn thể hiện sự khách quan dựa vào các nghiên cứu KH cũng như những quan sát và trải nghiệm thực tiễn ở Việt Nam và Châu Âu. Mong được cô chia sẻ nhiều hơn với trang HTN ạ.
      Cháu chỉ tập trung viết mấy bài luận về chính trị và xã hội thời SV thôi ạ, chứ bây giờ là ngày ngày “đối phó” với tụi trẻ nhiều khi, đến tối cháu mới có thời gian xem phóng sự về tình hình TG, nghe các cuộc tranh luận của các CT gia và …gật gù rồi cười ngất với các comedy shows. Cháu không biết ở VN như thế nào, nhưng cháu thấy mấy anh chị comedians bên này là những người hiểu biết rất rộng, thông minh xuất chúng, tinh tế và sắc bén trong quan sát, nhanh nhạy và linh hoạt trong mọi tình huống! Có cả nhiều người trước là bác sĩ và cả đang học KHXH và Ngôn Ngữ học, hay là chuyên gia hướng dẫn nuôi dạy chó, đều rất thành công với tài làm khán giả cười của họ. Các comedy shows của họ có những đề tài về Chính Trị, Giáo Dục, Cuộc Sống mà trong đó ngay cả các chính trị gia cũng bị đả kích và châm biếm, nhưng chính các ngài đó cũng xem và cũng không nhịn được cười. Có lẽ các nhà lãnh đạo dân chủ thường cười chứ không phải tức giận khi bị dân chúng chỉ trích, bởi vì “to laugh at oneself means to take one-self seriously while simultaneously being able to open up your mind and learn from your mistakes”!

      Số lượt thích

  3. Tôi thì lại thấy một nền giáo dục thực sự nhân bản thì phải đa dạng, có lớp chuyên toán cho các bé giỏi toán, thích học toán, có lớp chuyên nghệ thuật cho các cháu có thiên hướng này. Tại sao cứ nhất thiết phải có một mô hình giáo dục cho tất cả trẻ con. Từ “gà nòi” hay được dùng để miệt thị “chuyên toán”, nhưng tôi không hiểu nó hàm chứa thông tin gì. Trẻ con giỏi toán, có thể hơi tồ, không khôn như những đứa trẻ khác. Đấy có phải là tội không nhỉ? Tại sao ai cũng phải khôn nhỉ?

    Nhân tiện chị Mai xem mô hình trường chuyên “gà nòi” Bronx Sciences
    http://en.wikipedia.org/wiki/The_Bronx_High_School_of_Science
    để tham khảo thêm.

    Số lượt thích

    • Đúng thế. Học sinh có nhiều loại. Mỗi học sinh là một cá biệt. Thầy cô thường nên coi trọng cái cá biệt này. Tuy nhiên nếu phải phân loại, ta có thể chia làm 4 nhóm:

      Nhóm 1, đông nhất, gồm những em bình thường, có làm bài có điểm.

      Nhóm 2, chỉ độ chừng 1/3 nhóm trên, gồm những em chẳng may bị mất bài, bị gia đình hoặc bạn bè lôi kéo. Vì thua sút nên cần được giúp đỡ và khuyên bảo.

      Nhóm 3, có thể lên đến 1/10 số học sinh, gồm những em tính khí bất thường, đôi khi ta gọi là “đần độn, phá phách”. Thầy cô không được phép gọi vậy, mà phải từ từ uốn nắn và giúp đỡ các em. Gọi là Special Ed.

      Nếu có nhóm 3 thì cũng có nhóm 4. Nhóm này có những khả năng hoặc năng khiếu đặc biệt, như toán, văn, kỹ thuật, có khi cả về thể thao. Các em cũng cần được giúp đỡ, bởi vì có những điều các em rất “ngố”. Sẽ không công bằng nếu để các em học với lớp khác. Có khi, thay vì được coi trọng, các em bị ăn hiếp, bị hớp hết cái khôn đi.

      Sau một thời gian chia ra, các em lại được xếp trở về học chung với các bạn khác, gọi là main stream, hay là inclusion, trong khi nhà trường tiếp tục theo dõi.

      Cho thấy, giáo dục không phải lúc nào cũng đơn giản và dễ dàng. Nhà trường có thể làm hỏng một đời, một thế hệ, nếu cứ ép buộc một quyết định sai lầm.

      Số lượt thích

    • Đúng là Bronx High School này có mô hình trường chuyên khác hẳn ở VN ta. Thể hiện rõ nhất ở MOTTO của trường “Every great advance in science has issued from a new audacity of imagination.” — John Dewey.
      Ngoài ra trường còn có tận hơn 60 CLB ngoại khoá với mọi chủ đề Nghệ Thuật, Thể Thao, KH, XH, Chính Trị, Giới Tính (cả đồng tính), Chủng Tộc vv..

      Số lượt thích

      • Vì sự “khác hẳn” đó theo ý của bạn, theo Thanh Hải chúng ta sẽ xoá bỏ hay cải tiến các trường chuyên hiện tại ở VN? Tôi thì nghiêng về việc cải tiến các mô hình hiện tại ở VN để tiệm cận sự tiến bộ kia. Tất nhiên với điều kiện hạn hẹp về cả vật chất và tinh thần trong nước thì thay đổi nhận thức, rồi biến thành hoạt động cụ thể, sẽ cần sự kiên trì thuyết phục và chờ đợi.

        Số lượt thích

      • Bạn Kim Minh thân mến, mình thiết nghĩ, nếu thầy cô nào cũng đều dành thời gian và tâm huyết cho từng học sinh trong lớp như thầy Tôn Thân ở trường Trưng Vương năm xưa, thì xã hội sẽ được đón nhận nhiều tài năng ở mọi lĩnh vực. Chuyện kể về một chị học sinh của thầy thời đó được thầy phát hiện năng khiếu ngoại ngữ thay vì phải theo đuổi nghiệp toán ( môn mà bố mẹ chị lầm tưởng là chị ham thích và có khả năng nhất) đã chứng tỏ thầy là người hết lòng vì trò, chứ không phải chỉ vì môn Toán mà thầy dạy. Do vay, các bậc phụ huynh nên cân nhắc và hỏi ý kiến con mình. tham khảo lời khuyên của thầy cô, trước khi quyết định gửi con học trường chuyên, lớp chọn. Mình có nghe chuyện ở bên này, khi một học sinh được nhà trường phát hiện khả năng đặc biệt của học sinh, thì họ đề nghị phụ huynh cho con qua thẩm định về tâm lý (psychological test) rồi mới kiểm tra trình độ và chọn một phương pháp phù hợp để bồi dưỡng tài năng. Thường thì có sự tham gia của các trường đại học trong đó có các chuyên gia về bồi dưỡng tài năng, gồm các nhà TÂM LÝ, các giáo viên, giáo sư về chuyên ngành. Các trường đại học này lại được các viện nghiên cứu hỗ trợ về phương pháp, kỹ thuật, Know-How, còn các hãng công nghiệp hay nhà nước thì cung cấp nguồn tài chính. Trong khi những chi phí ở các trường chuyên ở VN hầu như là do PHỤ HUYNH phải trả, nên nhiều tài năng của VN còn chưa được phát hiện và bồi dưỡng vì gia đình có hoàn cảnh kinh tế khó khăn. Vậy nhà nước ta với định hướng XHCN thì phải dành nguồn kinh phí lớn cho giáo dục nhiều hơn, tạo điều kiện cho tất cả trẻ em VN được cắp sách đến trường, có cơ hội học cả trường chuyên mà không phải trả học phí. Với tình trạng như hiện nay, đầu vào lớp 1 cũng đòi hỏi phụ huynh phải nộp vài chục triệu thì sẽ không có sự công bằng trong việc bồi dưỡng tài năng. Ngoài ra cần có sự hợp tác và hỗ trợ của các tập đoàn công nghiệp và các viện nghiên cứu để nâng cao chất lượng ve trang bị kỹ thuật, phòng thí nghiệm, thư viện vv… cho các trường chuyên ở VN thì chất lượng mới cao, phù hợp với sự phát triển nhanh của công nghệ thông tin.

        Số lượt thích

    • Thành thật xin lỗi nếu chữ «gà nòi» làm anh Châu khó chịu. Tôi hoàn toàn không có ẩn ý miệt thị vì chính bản thân tôi cũng đã là «gà nòi» hồi xưa, cho giải văn chương phụ nữ Hai Bà Trưng hồi còn học trung học ở miền Nam (A, tôi không có ý so sánh với Olympiade Toán hay với giải nào khác – chỉ dừng lại ở chữ «được luyện để thi»).

      Cảm ơn anh cho đường dẫn tới trường chuyên ở Bronx.

      Về giáo dục vĩ mô, tôi trung thành với và tranh đấu cho bình đẳng. Tức là dị ứng với chấm điểm xếp hạng, dù là xếp hạng trò giỏi trò kém hay xếp hạng các trường Đại học (cũng đã viết nhiều bài về vấn đề này, nhưng không dám giới thiệu đường dẫn nữa đâu!). Tôi không là người duy nhất nghĩ rằng một môi trường bình đẳng ở học đường có khả năng làm phát triển tốt hơn những tiềm năng của tất cả trẻ để từ đó, tạo một masse critique — khối lượng đủ để – thay đổi tình thế, kể cả tình thế khoa học, kỷ thuật của một xã hội.

      Nhưng chuyện đó dài, có lẻ chúng ta còn có dịp bàn thêm.

      Hi vọng mấy dòng này đủ để xóa những hiểu lầm có thể.

      Số lượt thích

  4. Giáo sư Châu hơi nhạy cảm khi nghĩ như thế này “Từ “gà nòi” hay được dùng để miệt thị “chuyên toán”, nhưng tôi không hiểu nó hàm chứa thông tin gì. Trẻ con giỏi toán, có thể hơi tồ, không khôn như những đứa trẻ khác. Đấy có phải là tội không nhỉ? Tại sao ai cũng phải khôn nhỉ?” Có lẽ GS Châu nên cười cho thoải mái tinh thần thì hơn ạ. Nhắc đến “tội” tình nghe căng thẳng quá!
    Dĩ nhiên là gà nòi phải thông minh mới được chọn, chứ đâu phải tồ ạ, nhưng nếu thời gian một ngày chỉ có 24 tiếng mà trừ đi việc ăn, ngủ, còn lại là học sinh luyện chỉ một môn, vậy thì sự thông minh phải chịu thiệt thòi quá. Những sở thích khác có thể bị sao lãng và bỏ quên, rồi những khả năng khác của đứa trẻ mà theo thời gian có thể phù hợp hơn với sự phát triển tâm sinh lý hơn, sẽ không được phát hiện hay quan tâm để bồi dưỡng. Và có nhiều trường hợp, cuộc đời của những tài năng toả sáng đó chỉ thực sự bắt đầu khi họ nhận ra rằng còn bao nhiêu khả năng đáng quý hơn của con người cũng cần phải được bồi dưỡng để cân bằng cuộc sống.

    HTN: Mọi người chú ý là khi comment quá nhanh (liên tiếp vài comment ngắn) thì Akismet nó tưởng là spam và nó tống vào spam, chúng tôi lại phải cứu comment sống trở lại rất mất công và gây hiểu nhầm. Tương tự như vậy là các comment có chứa nhiều đường link (1 cái thì không sao), Akismet nó cũng tống ngay vào spam.

    Số lượt thích

  5. (3) Giáo dục năng khiếu và tài năng không phải là một “đặc ân” cho một số nhỏ “tinh hoa”, mà thực sự là việc đáp ứng quyền và nhu cầu được phát triển theo khả năng và đặc điểm riêng trong học tập và rèn luyện của các học sinh sinh viên có năng lực và cố gắng vượt trội.
    À, ra thế! Đối với cá nhân trong toàn cầu hoá và xu hướng con người được tự do độc lập, nội dung trên đây hoàn toàn khoa học và nhân bản. Tuy nhiên, quý vị hãy quan sát nhân lực cho nền kinh tế và phát triển quốc gia đang bị “ruỗng” bởi hai “gọng kìm”.
    – Chiến lược quốc gia về xuất khẩu lao động mặc dù có ít nhiều lợi “lộc” nhưng cũng phần nào xuất khẩu sự “mất thể diện” (vô hình chung kích thích xuất khẩu “cô dâu” cho “lũ” Hàn, Đài…) và thất thoái tài nguyên nhân lực ( tại sao không bỏ đi từ”chiến lược, thay bằng chính sách di cư lao động tự do hoặc tạo điều kiện mở mang việc làm trong nước?)
    – Giáo dục năng khiếu này góp phần vào hệ thống “phát hiện sớm” trong cạnh tranh thu hút tài năng quốc tế, hệ quả là, các cực mạnh nhất ( Mỹ, Úc, Singapore…) sẽ thành công nhất hút nhân tài quốc tế. Đối với Việt Nam, nếu không may mắn có những nhà khoa học tâm huyết “quay về” hoặc đồng thời phụng sự mà GS Ngô Bảo Châu là một ví dụ thì tất cả còn lại vô tình là “vong bản”. Tôi không hề có ý “kỳ thị” hay ích kỷ mà hãy nhìn vào thực tế, làm thế nào khác được trong một nền chính trị “vong bản” hiện nay!

    Số lượt thích

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Nhập địa chỉ email để nhận thông báo có bài mới từ Học Thế Nào.

%d bloggers like this: