How We Learn

Đề xuất triết lý giáo dục Việt Nam – Mạc Văn Trang

Trong những năm gần đây, vấn đề triết lý giáo dục, triết học giáo dục rộ lên, lắng xuống, lại rộ lên… Nhiều cuộc hội thảo, rất nhiều bài viết trên báo chí nhưng hình như càng bàn càng rối. Từ trước tôi chưa bao giờ lên tiếng về vấn đề này, vì cũng xa với chuyên môn và nghĩ rằng, giáo dục là hệ thống con nằm trong hệ thống mẹ xã hội, sao quẫy ra khỏi cái hệ thống mẹ? Nhưng gần đây phải chú ý vì thấy bộ trưởng giáo dục Phạm Vũ Luận đã tìm ra triết lý đây rồi: “Tôi xin khẳng định triết lý trực tiếp của giáo dục chúng ta là Nghị quyết 29 của Trung ương. Các quan điểm, đường lối của Đảng về phát triển giáo dục, đào tạo thì nhiều nhưng gần đây nhất là Nghị quyết 29. Ở đây thể hiện cả truyền thống tinh hoa, kinh nghiệm của cha ông ta trong quá trình phát triển và làm giáo dục và cả những vấn đề cập nhật, hội nhập theo quan điểm của chúng ta”, Bộ trưởng Luận khẳng định. (VTV News 30/4/2014).

Tuyên bố này lại là dịp để thiên hạ xôn xao bàn tán. Nhân đây tôi xin có vài ý kiến.

  1. Cũng cần phân biệt triết học giáo dục và triết lý giáo dục

Theo cựu Bộ trưởng Giáo dục Phạm Minh Hạc (2011)  tình hình chung có 4 loại ý kiến:

–        Giáo dục Việt Nam chưa có triết lý…

–        Giáo dục Việt Nam có triết lý nhưng sai..

–        Việt Nam có triết lý giáo dục và vận dụng tài tình mới có thành tựu như ngày nay..

–        Việt Nam có triết lý giáo dục những sang thế kỷ XXI phải phát triển mới…

Phạm Minh Hạc trong cuốn “Triết lý giáo dục thế giới và Việt Nam” (2011, Viện Khoa học giáo dụcViệt Nam), viết “Triết lý giáo dục (tức Triết học giáo dục) đã có từ thời cổ đại, được nêu ra bởi các nhà tư tưởng lớn của nhân loại, như Khổng Tử, Socrates, Platon, Arixtoteles… ”. Như vậy theo tác giả, triết lý giáo dục bao hàm cả triết học giáo dục hoặc là tương đồng, chỉ là cách gọi khác nhau, và  cả hai khái niệm này đã xuất hiện từ thời các nhà tư tưởng cổ đại.

Thái Duy Tuyên trong cuốn “Triết học giáo dục Việt Nam” (2007, NXB ĐH Sư Phạm HN) lại viết “Triết học giáo dục trong đó bao hàm cả Triết lý giáo dục” và cũng cho rằng triết học giáo dục có từ thời cổ đại, nằm trong tư tưởng, triết học nói chung. ..

Đọc sách của hai giáo sư xong càng thấy bối rối, không biết, vậy triết lý hay triết học của giáo dục Việt Nam là gì!

Theo Phạm Khiêm Ích (2011, Kỷ yếu hội thảo về Khoa học giáo dục Việt Nam, Viện KHGDVN) thì “Triết học giáo dục có tiền sử từ thời cổ đại, nhưng với tư cách một phân ngành khoa học thì mới có từ giữa thế kỷ XX”. Theo tác giả, sớm nhất là Hoa Kỳ thành lập Hội Triết học giáo dục (PES) tại đại học Columbia tháng 2/1941, tiếp đến Hội triết học giáo dục Anh quốc (PESGD) ra đời 1964, xuất bản tờ Journal of Philosophy of Education năm 1965… Theo V.V. Platonov thuật ngữ “Filosofija obrazovanija” (Triết học giáo dục) chỉ mới được sử dụng lần đầu tiên ở Nga  vào tháng 11/1995, trong hội nghị bàn tròn: “Triết học giáo dục: Hiện trạng, vấn đề và triển vọng”.  Đến Đại hội Triết học toàn Nga lần thứ III vào năm 2002, triết học giáo dục mới được thảo luận ở Tiểu ban “Triết học giáo dục” tại đại hội. Sau đó ở Nga đã thành lập Viện Triết học Giáo dụctạp chí Triết học Giáo dục được xuất bản… Hai nhà triết học giáo dục Nga A.P. Ogurco và V.V. Platonov đã viết: “Môn triết học giáo dục mang ý nghĩa mới hẳn đã xuất hiện. Như vậy, bản thân triết học giáo dục đã chín muồi thành một lĩnh vực năng động, cống hiến dồi dào hơn bao giờ hết cho việc thấu triệt của chúng ta về những vấn đề cơ bản nhất của lý luận và thực tiễn giáo dục” (Phạm Khiêm Ích, 2011). .. Từ khi Liên xô sụp đổ, các nhà giáo dục Việt Nam có lẽ đã it cập nhật tiến bộ khoa học giáo dục của Nga nên thiếu thông tin về triết học giáo dục chăng?

Nếu hiểu như trình bầy ở trên có thể khẳng định ở Việt Nam chưa có triết học giáo dục. Triết học giáo dục là một phân ngành của Triết học, nó nghiên cứu, truyền bá, giảng dạy (đào tạo) về triết học giáo dục và được thiết chế hóa về mặt xã hội: có cơ sở nghiên cứu, có nhân lực chuyên môn, có tạp chí triết học giáo dục…

Còn triết lý giáo dục có thể hiểu là những tư tưởng, quan điểm được khái quát từ triết học, văn hóa nói chung và từ trải nghiệm cuộc sống trở thành những tín niệm để chỉ đạo sự suy nghĩ và hành động của con người đối với giáo dục. Hiểu như vậy thì ở Việt Nam từ lâu đã có triết lý giáo dục. Chẳng hạn như “Tiên học lễ, hậu học văn”, “Không thầy đó mày làm nên”, “Học đi đôi với hành”,  “Lý luận gắn liền với thực tiễn”, “Vì lợi ích trăm năm trồng người”,  “Giáo dục là quốc sách hàng đầu”  v.v… Nhưng các triết lý ấy chưa có tính hệ thống và đủ tầm khái quát, xuyên suốt mọi suy nghĩ, thái độ, hành động của những người làm giáo dục và toàn xã hội.

  1. Triết lý giáo dục Việt Nam

Phải thừa nhận nền giáo dục Việt Nam Cộng hòa đã xác lập được triết lý giáo dục một cách rất bài bản. Theo Nguyễn Quang Duy (Melbourne, Úc Đại Lợi, khoahocnet 2/4/2014) và nhiều tác giả khác, năm 1958, dưới thời Bộ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục Trần Hựu Thế, Việt Nam Cộng Hòa nhóm họp Đại hội Giáo dục Quốc gia (lần I) tại Sài Gòn. Đại hội này quy tụ nhiều phụ huynh học sinh, thân hào nhân sĩ, học giả, đại diện của quân đội, chính quyền và các tổ chức quần chúng, đại diện ngành văn hóa và giáo dục các cấp từ tiểu học đến đại học, từ phổ thông đến kỹ thuật… Ba nguyên tắc “nhân bản” (humanistic), “dân tộc” (nationalistic), và “khai phóng” được chính thức hóa ở hội nghị này.

Đây là những nguyên tắc làm nền tảng cho triết lý giáo dục của Việt Nam Cộng Hòa, được ghi cụ thể trong tài liệu Những nguyên tắc căn bản do Bộ Quốc gia Giáo dục ấn hành năm 1959 và sau đó trong Hiến Pháp Việt Nam Cộng Hòa (1967).

Đó là triết lý giáo dục trở thành những nguyên tắc, phương châm ứng xử với giáo dục mà từ người lãnh đạo quốc gia, quản lý giáo dục đến giáo viên, học sinh, sinh viên, cha mẹ học sinh đều dễ hiểu, dễ nhớ và có thể trở thành những tín niệm để điều chỉnh suy nghĩ, thái độ, hành động trong giáo dục.

Trở lại lịch sử, năm 1943 Tổng bí thư Trường Chinh đã soạn thảo Đề cương Văn hóa Việt Nam rất nổi tiếng.  Đề cương văn hóa đã xác định 3 nguyên tắc của cuộc vận động văn hóa ở Việt Nam thời kỳ này là:

– Dân tộc hóa, chống lại mọi ảnh hưởng nô dịch và thuộc địa để cho văn hóa Việt Nam độc lập, phát huy những truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc;

– Đại chúng hóa, chống lại mọi chủ trương, hành động làm cho văn hóa phản lại đông đảo quần chúng hoặc xa đông đảo quần chúng;

– Khoa học hóa, chống lại tất cả những cái gì làm cho văn hóa trái khoa học, phản tiến bộ.(Báo điện tử Đảng CSVN 20.9.2013).

Hiểu theo nghĩa rộng thì văn hóa bao gồm cả giáo dục trong đó. Cho nên ba nguyên tắc: Dân tộc, Khoa học, Đại chúng có thể coi là triết lý của văn hóa, giáo dục đều phù hợp. Một điều lưu ý nữa, vào năm 1943 nước ta chưa giành được độc lập, nên phải “chống” những gì trái với  3 nguyên tắc đó, để cho nền văn hóa trở về với dân tôc, đại chúng hóa và mang tính khoa học. Ngày nay chúng ta “xây” nền văn hóa, theo những nguyên tắc đó là phù hợp.

Từ những cơ sở nêu trên, tôi thấy nên kế thừa và chọn lựa những nguyên tắc làm cơ sở cho Triết lý giáo dục Việt Nam hiện nay là: KHOA HỌC, NHÂN BẢN, DÂN TỘC.

Khoa học cần đặt lên hàng đầu vì nước ta chậm phát triển, muốn tiến nhanh “sánh vai cường quốc năm châu” thì giáo dục phải đưa thế hệ trẻ tiếp cận với dòng chảy của văn minh nhân loại để hy vọng rút ngắn và bắt kịp với sự phát triển vũ bão của khoa học, công nghệ thế giới. Chỉ có thế hệ trẻ thông qua con đường giáo dục mới làm được việc đó. Tinh thần khoa học phải quán triệt trong mọi hoạt động giáo dục: Xác định mục tiêu, xây dựng chương trình, viết sách giáo khoa, tổ chức, quản lý, phương pháp giáo dục, đào tạo, kiểm tra, đánh giá… Trên tinh thần khoa học, tại sao ta không thể mượn chương trình, sách giáo khoa, giáo trình về khoa học, công nghệ của các nước tiên tiến rồi điều chỉnh cho thích ứng với Việt Nam, mà cứ hì hục mò mẫm một mình một kiểu? Học sinh, sinh viên người Việt học ở Mỹ, ở Đức… phần lớn đạt kết quả khá, chứng tỏ người Việt thích ứng tốt với những nền giáo dục ở đó. Với tinh thần khoa học, các môn văn, sử, công dân, triết học, chính trị học… cũng không thể một mình một kiểu, tuyên truyền lấy được, mà phải đảm bảo tính khoa học phổ quát. Quản lý giáo dục càng phải khoa học, khách quan chân thực thay cho thi đua báo cáo thành tích gian dối… (Hãy xem những văn bản về quản lý, tài liệu đào tạo cán bộ quản lý giáo dục, đầy tính duy ý chí, phi khoa học).

– Nhân bản, coi con người là gốc, học sinh, sinh viên là trung tâm, là lý do tồn tại của nhà trường. Nhân bản bao gồm trong đó cả dân chủ, tự do, bình đẳng, bắc ái, khai phóng…Nhân bản là tôn trọng con người, phát triển toàn diện con người, khơi dậy lòng tự tin, tính tự chủ tích cực, cá tính và tiềm năng sáng tạo của học sinh, sinh viên; nhân bản là hướng dẫn học sinh, sinh viên tiếp thu những giá trị nhân văn phổ quát của nhân loại để biết thương yêu tôn trọng con người, biêt sống hòa bình, hữu nghị, hợp tác với mọi người, mọi dân tộc trên thế giới…Nhân bản phải được quán triệt sâu sắc trong đào tạo giáo viên, trong những người làm nghề sư phạm, không thể để xảy ra tình trạng trẻ em, học sinh bị người nuôi trẻ, giáo viên xúc phạm đến thân thể, nhân phẩm. Nhân bản cũng phải được truyền thông sâu rộng trong cha mẹ học sinh và toàn xã hội để biết tôn trọng trẻ em, tránh phân biệt đối xử trai, gái, tránh bạo hành con trẻ…

– Dân tộc là nguyên tắc trong xác định mục tiêu giáo dục, đào tạo ra những con người Việt Nam yêu nước, trách nhiệm với dân tộc, thấm nhuần những truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc, có phẩm chất, năng lực hội nhập toàn cầu nhưng biết gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa tốt đẹp của Việt Nam.

Tính dân tộc phải được quán triệt trong nội dung giáo dục nhất là những môn khoa học xã hội và nhân văn; phải được thể hiện ở văn hóa học đường, trong các mối quan hệ nhà trường và cộng đồng, nhà trường và cha mẹ học sinh, thầy và trò…

Tính dân tộc thể hiện trong đường lối, chính sách phát huy truyền thống “Hiền tài là nguyên khí quốc gia”, “khuyến học”, “khuyến tài”, “Khai dân trí, chấn dân khí”, “Diệt giặc dốt”…và dựa vào dân để phát triển giáo dục, xây dựng xã hội học tập…Tính dân tộc phải không tách rời tính khoa học và nhân bản thì truyền thống dân tộc mới phát triển ở trình độ cao và hội nhập được với thế giới, góp phần vào sự phong phú văn hóa của nhân loại.

Cần lưu ý thêm: Ba nguyên tắc Khoa học, Nhân bản, Dân tộc là triết lý chung, bao trùm, xuyên suốt mọi vấn đề của giáo dục, từ vĩ mô đến vi mô, từ bậc nhà trẻ đến giáo dục phổ thông, đại học, sau đại học… Đồng thời ở từng cấp độ cũng có những nguyên tắc, phương châm hay triết lý phù hợp, cần được lựa chọn, xác định. Ví dụ:

– Ở cấp độ mục tiêu giáo dục, có thể lấy “4 trụ cột giáo dục” đã được UNESCO khuyến cáo (1998) là: Học để biết (Learning to know), Học để làm (Learning to do), Học để chung sống (Learning to live together), Học để làm người (Learning to be);

Ở cấp độ nội dung: Không phải dạy những gì giáo viên có mà dạy những gì người học cần;

– Ở cấp độ tổ chức dạy học: Học đi đối với hành, lý luận gắn với thực tiễn;

– Ở cấp độ nguyên tắc dạy học: Thầy tổ chức – Trò hoạt động để lĩnh hội tri thức…

Ở cấp độ phương pháp dạy học: Không có trò dốt, chỉ có thầy chưa biết cách dạy;

– vân vân…

Như vậy cần xây dựng một hệ thống triết lý giáo dục Việt Nam ở các cấp độ khác nhau, tất cả đều quán triệt nguyên tắc Khoa học, Nhân bản, Dân tộc, làm cơ sở, làm phương châm cho suy nghĩ, thái độ, hành động của mọi người liên quan đến giáo dục.

  1. Nói thêm về khía cạnh tâm lý

Những người cộng sản quen kiêu ngạo với “chủ nghĩa vô địch”, “đỉnh cao trí tuệ” nay dễ “tự ái cộng sản” không thể lấy triết lý giáo dục của “ngụy” làm của mình được (!). Xin thưa, triết lý đó không của riêng ai cả, đó là thành tựu phát triển tư tưởng, văn hóa, giáo dục của nhân dân ta (miền Nam), anh em trong nhà ta nhờ đi trước, sớm hơn mà có. Nay ta thấy đúng, thấy hay, lấy dùng, có chi mà xấu hổ. Hơn nữa hệ thống giáo dục phổ thông 12 năm hiện nay thay cho hệ thống giáo dục 10 năm kiểu Liên xô trước kia; hệ thống trường ngoài công lập phát triển rộng khắp; đào tạo đại học từ niên chế sang học phần, tín chỉ, rồi lập đại học quốc gia Hà Nội, TP Hồ Chí Minh tập hợp các trường thành viên vào một mối …đều là lặp lại những gì giáo dục miền Nam đã có trước ngày 30 tháng 4/1975. Vậy thì lấy cái triết lý giáo dục đó rồi cải tiến, nâng cao cho hợp thời nay thì có gì phải lăn tăn!

Xin chân thành có vài ý kiến như vậy, mong được trao đổi, chia sẻ để cùng xác lập triết lý giáo dục Việt Nam sao cho toàn dân đều thấy hợp lý, hợp tình, dễ hiểu, dễ theo.

Hà Nội, ngày 8 tháng 5 năm 2014

Mạc Văn Trang

Advertisements

Tagged as:

22 phản hồi »

  1. Một bài viết thẳng thắn trên báo mạng chính thống.
    (hình như trang báo HTN có trục trặc hoặc là có HTN phiên bản? Khi gửi phản hồi thấy bài biến mất chứ không phải ở trạng thái chờ xét duyệt)
    http://vietnamnet.vn/vn/giao-duc/175665/thu-giang-vien—chung-ta-dung-tu-lua-minh–.html

    Số lượt thích

  2. Xin lỗi vì gửi phản hồi nhiều lần (3 lần). Mục đích chính muốn chia sẻ thông tin mới và để thử lại xem sự hoạt động của trang HTN. Đây là cố gắng cuối cùng cho một băn khoăn của tôi.
    http://vietnamnet.vn/vn/giao-duc/175665/thu-giang-vien—chung-ta-dung-tu-lua-minh–.html

    Số lượt thích

  3. Nếu đúng như bác Mạc nói là “mong được trao đổi, chia sẻ” thì bác có thể vào và comment để trao đổi với chúng tôi.
    Sau cái mở bài là đoạn 1, tôi xin phân tích.
    Đoạn “Theo … là gì!”: ý của bác là các tác giả ta viết trái nhau, nên không thể hiểu THGD hay TLGD VN là gì! Xin thưa, ấy là bác không biết nên lựa chọn cái nào chứ trong cái mà bác trích ra không có lỗi gì trong việc khiến bác không hiểu.
    Tiếp theo bác đành tìm hiểu thêm từ nguồn khác:
    Đoạn ” Theo Phạm Khiêm Ích (2011được xuất bản… ” nói rằng triết học GD là một phân ngành triết học, có các “thiết chế xã hội”.
    Nối tiếp, là câu của hai ông người Nga, có thể coi là định nghĩa về triết học GD mà bác đã kiếm được.
    Sau đó “Từ khi Liên xô sụp đổ, các nhà giáo dục Việt Nam có lẽ đã it cập nhật tiến bộ khoa học giáo dục của Nga nên thiếu thông tin về triết học giáo dục chăng?” Câu này là câu hỏi nhưng giọng văn như muốn khẳng định. Mà nếu là khẳng định thì nghe nó phách lối quá. Bác căn cứ vào đâu để khẳng định? bác đã đọc hết các sách về GD của ta chăng? Lại nữa, có chắc là cứ phải “cập nhật” như bác thì mới hiểu triết học giáo dục?
    Rồi lại, cái câu này nghe nó kì cục quá:
    Triết học giáo dục là một phân ngành của Triết học, (!) nó nghiên cứu, truyền bá, giảng dạy (đào tạo) về triết học giáo dục và được thiết chế hóa về mặt xã hội: có cơ sở nghiên cứu, có nhân lực chuyên môn, có tạp chí triết học giáo dục…
    Tôi không thể hiểu nổi. “nó” (ở cái chỗ chấm than tôi thêm vào ấy) là đại từ chắc chắn là đại diện cho “triết học giáo dục” ở đầu câu. Thế thì hoá ra “triết học giáo dục” nghiên cứu, truyền bá, giảng dạy “triết học giáo dục” !
    Đoạn sau là tự bác đưa ra cái hiểu cá nhân về triết lý GD và bảo rằng ở VN đã có triết lý GD nhưng chưa hệ thống, chưa xuyên suốt.
    Tôi bình luận thế này: Bác Mạc là một người học, hành đúng cái lối tầm chương trích cú và ít suy ngẫm.
    Tôi ngẫm cho bác xem:
    Triết học giáo dục là một từ (cụm từ) theo cấu trúc từ của Ta. Trong đó triết học là danh từ chính, giáo dục là danh từ xác định, giới hạn. Vậy triết học giáo dục ắt là cái triết học về giáo dục hoặc gắn với giáo dục. Tương tự, triết lý giáo dục là cái triết lý về giáo dục hoặc gắn với giáo dục. Cho nên hai khái niệm ấy có khác nhau hay không thì phải xem triết học và triết lý có khác nhau hay không.
    Tôi ngẫm tiếp:
    Triết học là một từ theo cấu trúc Tây – Tầu. Trong đó học là từ chính, triết là từ xác định. Vậy Triết học là học (ngành học, sự học, học – động từ) có tính triết. Tương tự, triết lý là lý ( lý – danh từ) có tính triết. Thế thì cặp khái niệm THGD với TLGD hay cặp TH với TL có khác nhau hay không là ở học với lý có khác nhau hay không.
    Quá rõ là học với lý khác nhau rồi. Nên các KN trên là khác nhau. Vậy thay vì phí sức đọc quá nhiều thì ngồi nghĩ lấy 15 phút tôi cho là bổ ích hơn.
    Tôi lại ngẫm:
    Học với lý thì khác nhau. Nhưng chúng cũng gắn với nhau. Học cái gì? học cái lý. Vậy thì cái lý là nội dung của học.
    Tôi lại ngẫm tiếp:
    Cần phải làm cho rõ hơn. Triết có nghĩa gì (ít người biết lắm)?
    – Triết có nghĩa là chia tách như chiết cây (đừng quan tâm chính tả!). Đúng rồi, các vị thông thái ngày xưa đã chia chẻ sự việc nên ông thì bảo thế giới là nước, ông coi là lửa, ông khác lại là nguyên tử, có nơi coi là tứ đại, nơi khác lại coi là âm dương – ngũ hành. Các vị thông thái ngày nay thì hết phân tử lại nguyên tử, bé hơn là hạt nhân – mây elec trôn, bé nữa là prô tôn – nơ trôn – elec trôn, lại bé hơn nữa là hạt cơ bản với các đối hạt, rồi lại chia tiếp đến hạ hạt, vẫn chưa thoả chí còn chui vào mấy cái vòng dây để thấy rằng có và không cũng như nhau. Một hiện tượng các vị ấy cũng cắt nhỏ, cắt nhỏ đến ra đạo hàm – vi phân. Một tương tác các ngài ấy cũng chia ra các lực yếu lực mạnh. Thế giới cũng bị chặt ra thành vật chất và ý thức. Thế thì triết đúng là chia tách.
    – Triết có nghĩa là giết, diệt, triệt hay nghĩa rộng là không còn gì. Theo nghĩa này triết là suy nghĩ đến tận cùng để không còn gì khúc mắc. Thế là các nhà thông thái Tây Phương nghĩ xem ai sinh ra ta? trước loài người là gì? trước vi khuẩn là gì? trước giải ngân hà? và chốt lại ở Big bang! (trước big bang lại là gì nhở? 😉 ). Còn các nhà thông thái Phương Đông thì hoặc là thế giới vốn không đầu, không cuối, không cùng (vô thuỷ, vô chung, vô hạn) hoặc là có đầu không đuôi (đạo là mẹ đẻ ra tất tật sinh sinh hoá hoá mãi). Rồi thì người bảo vật chất có trước, kẻ cãi ý thức trước; cũng chỉ để nhận rằng mình đã nghĩ đủ cả. Dân gian thì hoặc là chúa hoặc là thánh hoặc là giời đẻ ra và lại về với chúa, thánh, giời. Thế là biết hết, khỏi thắc mắc.
    – Triết có nghĩa là chít lại (thắt lại, bịt lại, buộc lại, hàn lại, nối lại) như bát chiết yêu là bát chít eo (vào bảo tàng dân tộc học có). Thế là các nhà thông thái đông tây lại túm tất cả vào một mớ bòng bong bảo là biện chứng, hay là lưới trời rung chỗ này động chỗ kia.
    Và triết còn có nghĩa là bế tắc (tổng hợp 3 nghĩa trên). Cho nên dù nghĩ theo cách gì thì các nhà thông thái cũng bế tắc. Cho nên điểm khởi đầu của các ngài đều là các ngài nghĩ thế, có thật thế không thì tự mỗi người chúng ta phân xử lấy (là chứng nhân cho chính mình). Các ngài đành lập ra các trường phái, các học thuyết, các tôn giáo – gọi tắt là gốc- và các vị đồ đệ nhảy vào xã hội tuyên truyền, lôi kéo người ta theo mình chứ đừng theo người khác. Để làm thế có hai việc: ứng dụng cái gốc của mình phục vụ hoặc lừa đảo quần chúng, phơi bày (đúng hoặc không đúng) cái kém cỏi, chưa hoàn thiện trong cái gốc của kẻ khác. Hệ quả là xã hội có phát triển nhưng cũng có chiến tranh.
    Tôi ngẫm lại: triết là chia chẻ, là triệt để, là kết nối và là bế tắc.
    Triết học là môn học, ngành học hay hành động học có tính triết.
    Triết lý là cái lý có tính triết.
    Triết học giáo dục là ngành hẹp của triết có nội dung gắn với giáo dục, hoặc là hành động học có tính triết mà nội dung gắn với giáo dục.
    Triết lý giáo dục là cái lý có tính triết và có nội dung gắn với giáo dục.
    Xin bàn thêm hai ông Nga nói về triết học giáo dục vậy là gần giống với tôi rồi; bác Mạc bàn về triết lý giáo dục thì cũng gần giống với tôi rồi nhưng còn chưa đủ khái quát.
    Tôi luôn cho rằng nên suy ngẫm trước khi tìm kiếm (hẹp hơn thì là nhặt nhạnh)!

    Số lượt thích

    • Bác pham thang coi chừng tẩu hỏa nhập ma bây giờ !
      Tôi thấy cái câu hỏi về triết lý giáo dục nó rất lẩm cẩm. Bác nào rảnh thích thì cứ việc ngồi mà suy ngẫm, chứ tôi thì chẳng cần đến nó tôi vẫn sống tốt. Giáo dục thì làm sao chăm sóc cho con người phát triển khỏe mạnh, tươi tốt, giống như chăm một cái cây ấy, tưới nước, bón phân, sao cho cây nào cũng có tí ánh nắng mặt trời! Cây nào rậm rạp quá thì cắt tỉa nó, cây nào xâm lấn dữ quá thì bứng nó ra đem trồng vào chậu kiểng. Chứ các bác có triết lý chăm cây không thì nói cho tôi nghe với !

      Số lượt thích

      • Chỉ nguyên cái đoạn bạn viết thôi đã có rất nhiều thông tin và có tính triết, có quan hệ tới giáo dục rồi. Tôi bắt đầu nhé. Vì sao bạn lại phải chăm cái cây ấy, những cái cây ấy? sao không mặc kệ nó sống thế nào thì sống, chết héo cũng kệ nó? Sao lại bón phân, làm cho cây nào cũng có tí ánh nắng? Sao lại cắt tỉa và mang vào chậu? Là tại cái suy nghĩ chủ quan của bạn nên bạn thấy thế này thế kia, và tại cái mong muốn của bạn nên bạn làm thế lọ thế chai. Đó chính là giáo dục rồi.

        Số lượt thích

  4. Triết học và triết lý khác nhau thế nào? Ta dùng chữ triết học để dịch chữ philosophie hay philosophy của tây phương. Tôi không nhớ rõ, philo có nghĩa là đẹp, philosophy có nghĩa là học về cái đẹp. Lâm Thanh Huyền viết về “cái đẹp của sự khiếm khuyết” trong cách cắm hoa của người Nhật, đó là philosophy. Lan Hương có lần viết về cái nghiêng nghiêng trong nhà thờ Notre Dame ở Paris, đó cũng là philosophy. Hồ Dzếnh nói, “tình chỉ đẹp khi còn dang dở,” cũng là một loại triết lý. Vậy, tôi nghĩ, triết học là tổng thể, còn triết lý thì cá biệt hơn.

    Khi học ở School of Education thuộc trường CSULB thì tôi thấy sinh viên sư phạm phải viết nhiều lắm. Tôi nhớ có hai bài, có thể gọi là triết học giáo dục (My Philosophy of Education) và triết lý giáo dục (Rationale of Teaching). Triết học GD nói lên cái quan niệm của tôi về giáo dục, tại sao tôi chọn nghề dạy học, và khi dạy học tôi muốn cái gì. Còn triết lý giáo dục, thì đưa ra chi tiết, muốn được như vậy tôi phải làm sao, và giải quyết những trở ngại bằng cách nào, vân vân.

    Sẵn đây, tôi cũng có ý kiến về “khía cạnh tâm lý” trong bài viết của Mạc Văn Trang. Khi học sử, các em học sinh biết là VN bị chia đôi từ 54 đến 75. Nhưng mà, các em có biết tại sao không ? Theo tôi thấy, chính quyền đã để cho sự rạn nứt kéo dài quá lâu. Vâng, tôi biết các anh thắng rồi đấy, nhưng các anh ngồi rung đùi, ăn mừng chiến thắng cho đến bao giờ? Có những tiêu cực có thể thay thế bằng những cách tốt hơn. Một vài ví dụ như: Khi nghe những tiếng “ngụy quân ngụy quyền,” tôi ghét cay ghét đắng, khi nghe đến tiếng “cộng sản” tôi liên tưởng đến “Tết Mậu thân.” Tôi cũng biết đây là do tuyên truyền, nhưng có cách nào ta có thể làm đẹp hơn không? Tôi không biết ở Đức, họ làm thế nào để giải hòa hai miền Đông và Tây Đức? Tôi chạnh nghĩ đến Nam và Bắc Hàn, tôi không nghĩ rằng một ngày nào đó họ có thể thống nhất được, và thấy rằng phước đức của dân tộc ta vẫn còn lớn.

    Số lượt thích

    • GS NBC thì nói : những gì quý nhất mà nhà toán học có thể đem đến cho người khác là khái niệm và ý tưởng 😀 Trong phim sói và thỏ (thỏ đóng vai ông già Noël), thì sói nói : “ông già Noël ơi, tôi rất thích những món quà của ông, nhưng món quà mà tôi thích nhất, chính là ông!”

      Số lượt thích

      • Sống ở đời, không phải tiền bạc mới đem lại cho ta hạnh phúc, mà còn cái gì khác nữa, bởi vì những cái tiền bạc có thể mua được, không phải là điều “ắt có và đủ.” Người ta nói: Tiền có thể mua được nhà, nhưng không mua được mái ấm; tiền có thể mua được giường, nhưng không mua được giấc ngủ an bình; tiền có thể mua được sex, nhưng không mua được tình yêu. TCS nói: Sống trên đời, ta cần có cái tình… Ô, bạn làm tôi triết lý rồi đấy ! Có lẽ triết lý giáo dục phải là như vậy (?)

        Số lượt thích

  5. HTN ơi, vô spam cứu comment giùm mình với !
    Triết lý giáo dục là đây có phải không ạ?

    http://baodientu.chinhphu.vn/Gop-y-Hien-ke/Can-xay-dung-he-thong-giao-duc-da-dang/199688.vgp

    Số lượt thích

  6. Bận quá, tranh thủ bình một mẩu này:
    “Trên tinh thần khoa học, tại sao ta không thể mượn chương trình, sách giáo khoa, giáo trình về khoa học, công nghệ của các nước tiên tiến rồi điều chỉnh cho thích ứng với Việt Nam, mà cứ hì hục mò mẫm một mình một kiểu? Học sinh, sinh viên người Việt học ở Mỹ, ở Đức… phần lớn đạt kết quả khá, chứng tỏ người Việt thích ứng tốt với những nền giáo dục ở đó. ”
    Điều chỉnh thế nào cho thích ứng? hay quá trình điều chỉnh cũng vẫn phải mò mẫm, một mình một kiểu?
    Học sinh người Việt học ở Mỹ, Đức, … phần lớn đạt kết quả khá là nói thật hay nói liều? phần lớn ấy là bao nhiêu phần trăm? Hơn nữa những học sinh ấy học trong nước rồi mới qua Mỹ, Đức hay học từ bé tại đó? Nếu học từ bé tại đó mà giỏi thì căn bản là gen dân Việt tốt. Nếu học trong nước rồi mới qua đó thì có thể nói nền tảng GDPT trong nước tốt.
    Nếu bác đặt câu hỏi ngược lại tại sao nền tảng tốt mà học tiếp trong nước lại không khá thì có nhiều lý do khác như đầu ra (sính tuyển người tốt nghiệp nước ngoài, bằng cấp nước ngoài nên sv không có động lực học), đánh giá sai khi dùng người (nên sv chỉ coi trọng điểm)…

    Số lượt thích

  7. Tôi là Mạc Văn Trang đây! Ngay từ đầu tôi đã nói đây không thuộc chuyên môn của mình, nhưng thấy thiên hạ bàn về Triết lý GD rối bời, nên thử tìm hiểu tí xem sao và đưa ra ý kiến như một người dân đề xuất với Bộ GD để luận bàn, xem xét. Tôi rất cảm ơn những ý kiến chỉ giáo uyên thâm của bác Phạm Thang. Nhưng chính hai giáo sư viết về “Triết lý GD tức Triết học GD” và “Triết học GD tức Triết lý DG” cũng uyên thâm gần như bác Phạm Thang, dẫn ra từ Platon…, Khổng Tử.. đến Nghị quyết … mênh mông, bao la mấy trăm trang sách, mà chốt lại không biết Triết lý hay Triết học GD Việt Nam là gì! Vậy nên tôi mới viết bài này, trước hết giải đáp cho bản thân, sau nữa chia sẻ để những người giáo viên, phụ huynh HS, dân thường cũng hiểu được.
    – Bác Phan Như Huyen ơi, tôi cũng có một tâm lý như bác, anh em một nhà, sao cứ để cái “hệ tự tưởng hão huyền” làm tổn thương nhau mãi! Cái Triết lý GD (cũng như mọi cái) của miền Nam trước đây hay thì ta học theo có gì phải lăn tăn.
    – Chị Lan Hương ạ, hôm rồi có người nói: Nghị quyết về GD lần này soi sáng..”, tôi nói: Cứ có NQ mới thi đua làm nên mới hỏng. Mẹ tôi nuôi 6 anh em tôi nên người mà chả bao giờ biết NQ là gì cả! Nhưng từng trong lời ru của mẹ là có triết lý đấy. Một nền GD thì cần có triết lý GD.
    Xin cảm ơn mọi người đã chia sẻ.

    Liked by 1 person

  8. Để hiểu Giáo dục cần hiểu giáo và dục. (đừng coi là ngớ ngẩn!)
    – Dục trong thúc giục, giục giã, dục vọng là sự thôi thúc, là ham muốn.
    Trong mối liên hệ Dục, chục (trục), chúc, rúc, nhục, … :
    Dục – trục thì dục là cái trục xoay của đời sống, người ta làm mọi việc vì dục.
    Dục – Chúc (trong chúc tụng), thì cũng vì ham muốn mới có chúc tụng. Nếu tôi chẳng muốn giàu thì chúc (thật lòng) tôi anh sẽ chẳng chúc giàu, nếu tôi chẳng muốn đẹp thì cúc tôi anh sẽ chẳng muốn đẹp, … và nếu tôi chẳng muốn gì anh sẽ chẳng có gì để chúc.
    Dục – Chúc (chúc xuống, rúc xuống) là nghĩa sâu xuống, bên trong thì dục vốn là cái bên trong.
    Dục – nhục thì dục đi với cái dính ướt nhớp (chữ nh) sẽ mang lại nhục.
    ….
    Nói tóm lại, dục là sự thôi thúc bên trong, là động lực làm việc, là động lực yêu thương.
    – Giáo vốn nghĩa không phải là dạy.
    Xét trong mối quan hệ: giáo, giao (dao), trao (chao), tráo (cháo), giào (rào), trào, giảo (dẻo, xảo), trảo (chảo), nháo, nhào…
    Giáo – tráo (giáo giở, tráo trở) thì giáo là chuyển qua chuyển lại. Món cháo là món mà khi nấu cũng phải dùng đũa (đũa cả) hoặc muôi đảo qua đảo lại.
    Giao, trao là người tung kẻ hứng lấy vai là tâm, bàn tay vẽ nên những cung. Chao (liệng) cũng có hình ảnh là một đường cong. Con dao hãy nghĩ đến con dao quắm cũng có mũi cong vào (cong vào chứ không phải cong ra nhé, nó với cái liềm là văn hoá Ta 100% ).
    Giào – rào – trào có nghĩa ngăn ở bên trong nhưng cũng có nghĩa thoát ra (cặp trái nghĩa cùng âm.)
    Giảo là (động tác) khéo léo thì cũng là những đường cong.
    Trảo là bàn tay cong các ngón lại. Cái chảo hình dáng cũng giống vậy.
    Nháo, nhào cũng là chuyển qua chuyển lại, đầy tràn và mềm, nhuyễn.
    Nhìn chung, giáo là chuyển qua chuyển lại, là cong, mềm.
    Tôi loằng ngoằng như thế để các bạn thấy đây là thứ thuần Việt, gần gũi chứ chẳng cao, xa gì.
    Vậy Giáo dục là chuyển qua chuyển lại cái ham muốn, cái thôi thúc bên trong bằng sự ham muốn thôi thúc bên trong và để cái ham muốn thôi thúc bên trong trở nên nhuần nhuyễn. (*)
    Để một lần nữa thuyết phục tôi nêu vài ví dụ:
    – Một chàng thanh niên đến gặp nhà thông thái (Châu Âu! tôi không nhớ tên, bạn nào thấy quen thì bổ sung hộ) xin được chỉ dạy để trở nên thông thái. Đang ở bờ biển (hay sông?), ông liền túm đầu anh ta ấn xuống nước, anh ta vùng vẫy dữ dội. Được thả ra anh thở như chưa bao giờ được thở. Nhà thông thái nói: bao giờ anh cần tri thức như dưỡng khí, anh làm việc để có nó như anh vừa vùng vẫy thì anh trở nên thông thái. Đó ắt là sự thôi thúc bên trong, là động lực làm việc rồi.
    – Những nhà giáo dục thì tự nhiên có sự đầy tràn đến mức thuyết phục, ai ở gần họ dù chưa nghe họ nói gì cũng thấy cuốn hút, họ nói rất ít mà ảnh hưởng sâu rộng. Các bạn hãy thử ở gần những bậc thầy lớn để kiểm nghiệm. Có lẽ Hồ Chí Minh sắp thành huyền thoại mất rồi nhưng nếu bạn chỉ ở gần một bậc thầy thật thì bạn đã thấy sự tràn đầy rồi.
    – Những nhà giáo dục không bao giờ có tâm lí đi dạy kẻ khác mà luôn có sự chuyển qua chuyển lại, tức là họ cũng thực sự học ngay người học mình với thái độ bình đẳng. Truyện Tầu có kể một ông thầy (tôi lại quên tên) dạy học trò mà có một trò (quên nốt) mấy năm không động đến sách mới gọi lại hỏi thì được thưa rằng : con nào dám lơ là, ăn phí cơm gạo. Trong mấy năm qua con chỉ học thầy có mấy việc là thầy đối xử với người trên với kẻ dưới và với bạn hữu. Ông thầy vái học trò và bảo : thế này thì tôi phải học thầy rồi.
    (*) Tôi đã từng bàn chuyện trên web này ( khi bạn LH bàn về vứt cái Lễ vào sọt ấy) về cái muốn rồi: sự trưởng thành của người ta là sự lớn lên của ham muốn và điều khiển ham muốn.

    Số lượt thích

  9. Mạc Văn TRang:
    Xin làm rõ thêm 2 câu bác Phạm Thang hỏi:
    1. Sao biết HS gốc Việt ở Mỹ và Đức học khá? Thông tin này trên các báo chí trong ngoài nước nói rất nhiều. Đặc biệt ở CHLB Đức, GS Heilmker (2010) đã có một điều tra, phân tích xem tại sao HS gốc Việt đạt kết quả tốt nhất trong các cộng đồng nhập cư vào Đức, thâm chí có trường HS gốc Việt còn có thành tích học vượt hơn cả HS gốc Đức ở bản địa. (Tiếc là tôi chưa tìm lại dược nguồn dẫn). Nhưng bác đọc tạm bài theo đường link này nhé.
    http://hovuvovietnam.com/Bao-duc-ca-ngoi-thanh-tich-hoc-tap-cua-mot-nu-sinh-goc-Viet_tc_293_328_728.html
    2. Có đọc hết sách GD không mà dám nói người ta khong cập nhật KHGD Nga? Thưa bác, đọc hết sách mới dám mở miệng thì khốn quá! Nhà cháu thấy hai GS TSKH hàng đầu về GDVN đều được đào tạo từ Nga về mà chưa cập nhật về Triết học GD Nga trong sách mới XB nên mới dám đặt câu hỏi tí. Như thé cũng không được phép chăng?
    Cũng nhờ sự uyên thâm chiết tự của bác Phạm Thang chỉ bảo mà ta thấy nghĩa lý sâu xa của từng con chữ, cho nên phải đọc với nhãn thức để hiểu đằng sau từng con chữ Triết – lý – giáo – dục nó là thế nào…. Bác phê nhà cháu “đọc mà không biết nghĩ, không hiểu..” thật chí lý. Xin đa tạ.
    Cuối cùng chỉ xin bác đề xuất cho, vậy: Triết – lý – giáo – dục VN là gì? Tại sao? Nghĩa lý sâu xa của Triết lý ấy là gì? Được vậy nhiều thế hệ con cháu nhớ ơn Bác.

    Số lượt thích

    • Tôi đã trả lời bác nhưng comment không hiện lên. Đành vắn tắt trả lời lại cái ý cuối vì nó tập trung vào chủ đề.
      1) Triết lý đầu tiên gắn với khái niệm giáo dục: Giáo dục là chuyển qua chuyển lại cái ham muốn, cái thôi thúc bên trong bằng sự ham muốn thôi thúc bên trong và để cái ham muốn thôi thúc bên trong trở nên nhuần nhuyễn.
      Khi đó nhà giáo dục và người được giáo dục có vai trò bình đẳng qua lại, cùng có ham muốn thôi thúc cải thiện mình và cải thiện người.
      2) Tiếp theo là cặp khái niệm dậy – học và thầy trò.
      Dậy:
      – Dậy : thức dậy, ngồi dậy, dậy sóng, dậy mùi, khơi dậy.
      – Dậy : dẩy, dẫy, đẩy, đầy, dầy, đậy, đẫy.
      Vậy dậy là đầy (đầy đoạ), giầy ( dầy xéo) làm cho bật lên (dậy), làm cho dầy- đầy, làm cho căng đẫy. Nói cho dễ hiểu, dậy là đẩy vào chỗ khó khăn (đầy đoạ), làm cho bật lên (dậy – sự phản kháng, đấu tranh với khó khăn), làm cho đầy (dầy kinh nghiệm, đầy sức sống).
      Học:
      – Học: hóc, hỏng, hóng, ngóng.
      – Học: húc, thúc, xúc, thọc, xọc, chọc
      Vậy học là mong ngóng (hóng, ngóng) khó khăn hóc, chạm (xúc) vào, lao (húc) vào, chọc vào mong húc, thúc, chọc thủng khó khăn và thất bại (hỏng).
      Qua đây thấy sự phù hợp của cặp khái niệm dậy – học: Một bên đẩy vào khó khăn, một bên mong ngóng và lao vào khó khăn; một bên làm cho bật dậy, một bên thì chủ động thúc, húc; một bên làm cho dầy -đầy, một bên thì sẵn sàng thất bại.
      Thầy:
      Thầy, xầy, trầy, dầy, đầy: nói về người thì đó là người dầy dạn, va vấp đời thực, và đầy tràn.
      Trò:
      Trò, trọ, dò, thò, hò, ò, dỏ, nhỏ: nói về người thì đó là người hoạt động, vươn ra, từng chút, cẩn thận, nhỏ bé và đầy.
      Nhìn lại thì thầy gắn nhiều với dậy, trò gắn nhiều với học nhưng cả hai đều đầy (ham muốn).
      3) Khái niệm tiếp theo là trường, lớp.
      Trường:
      Trường, trưởng, trương, trướng, trượng, giương, giang, tràng, trảng, tráng, sáng, xướng, thướng, thượng, thường, thưởng, thương nghĩa là căng đầy từ bên trong, vươn ra, vươn cao, rộng, vươn lên, lâu bền
      Trường học có thể nói vùng không gian diễn ra hoạt động học (bên ngoài), có thể nói là sự học vươn lên, mở rộng (trong tâm hồn), có thể nói là sự học lâu bền (thời gian). Vì thế nơi nào có hoạt động học, nơi nào có sự vươn lên về tâm hồn, nơi nào sự học hướng tới lâu bền thì nơi đó là trường học.
      Lớp:
      Lớp,lát, nhát, lắt, xắt là phân tách nhưng lớp là sự phân tách có chiều cao.
      Lớp học là sự phân chia sự học theo chiều cao, là phân chia theo chiều cao sự học.
      Chúng ta kêu gọi tự do giáo dục, giáo dục khai phóng nhưng không phải cứ kêu là nó tự do, nó khai phóng. Việc cần làm là tạo ra môi trường để nó tự do, nó khai phóng. Tôi đề nghị nhà nước nên thừa nhận nhiều hình thức dạy học, tức là nhiều mô hình trường lớp khác nhau như: tự học, trò mời thầy dạy, thầy tự mở lớp dậy,… Thừa nhận không phải là nói suông mà thực hiện bằng luật việc cho phép bất cứ ai, bằng bất cứ hình thức học tập nào đều được thi tốt nghiệp THPT. Như vậy việc cạnh tranh thực sự lành mạnh, không độc tôn, độc quyền một hình thức trường lớp nào. Như vậy tránh được chuyện giáo viên trù dập học sinh, nhà trường cậy thế o ép học sinh.
      4) Nhìn theo tổng thể xã hội:
      Hãy quan sát quá trình mang thai. Trong đó, phôi phát triển thể hiện sự tiến hoá sinh học. Xã hội loài người ngoài tiến hoá sinh học còn tiến hoá xã hội. Như thế xã hội cũng phải có quá trình mang thai của nó. Đó là chính là quá trình giáo dục trong trường học (nghĩa phải xét rộng rãi như bên trên) (trường – sự căng đầy từ bên trong- mang thai). Quá trình đó cũng phải để lại dấu vết.
      Như vậy, toàn xã hội phải có vai trò trong giáo dục. Và nhà trường phải thể hiện rõ sự tiến hoá của xã hội. Nghĩa là trong trường phải tạo ra môi trường của từng thời kì phát triển mà nhân loại trải qua. Có như thế tri thức mới có điều kiện đến với học sinh một cách tự nhiên nhất. Như thế tri thức mới có lý do tồn tại trước học sinh một cách tự nhiên nhất. Tránh tình trạng học sinh và gia đình hỏi thầy giáo rằng đã có máy tính còn dạy học sinh cộng trừ để làm gì!
      Tôi lấy ví dụ:
      – Dạy học sinh học viết. Trước hết kể cho các em một câu chuyện và chơi một trò chơi. Ba nhóm: Nhóm một ở phòng này, nhóm hai ở phòng kia, nhóm ba đưa tin qua lại. Yêu cầu Nhóm 1 nói với nhóm 2 một điều gì đó, nhờ nhóm 3 chuyển lời, nhóm 2 trả lời nhóm 1 và cũng qua nhóm 3 chuyển lời. Nhóm 3 có quyền nói dối và được thưởng nếu nói dối thành công. Cứ như thế chỉ ba lượt là câu chuyện mà hai nhóm 1 và 3 nói sẽ lệch nhau thành chuyện hài hước và sẽ không tin tưởng câu chuyện được kể qua nhóm 3. Đặt vấn đề yêu cầu nhóm 1 và 3 dùng kí hiệu trên giấy để chuyển thông tin qua nhóm 2. Tự nhiên chuyện thống nhất kí hiệu là cần thiết và sự sai lạc thông tin giảm đi. Đó là giá trị của kí hiệu, chữ viết và quy luật hình thành chữ viết. Giờ học có thể kéo dài hay méo mó. Nhưng sức sống của nó thì còn đọng lại cả đời.
      – Dạy toán. Trước hết cho học sinh kẹo bánh và xem bên nào nhiều hơn. Sự so sánh tương ứng từng chiếc ở hai bên thể hiện sống động khái niệm ánh xạ. Sau đó hai nhóm ở hai phòng so sánh số kẹo qua nhóm thứ 3. Tự nhiên việc ghi lại số kẹo mỗi bên là cần thiết và số ra đời, quá trình đếm ra đời. Tiếp theo tăng số kẹo thật nhiều thì việc đếm phức tạp lên, ghi số nhiều lên. Tiếp theo là số kẹo gộp lại hay còn lại sau khi bớt đi là bao nhiêu đẻ ra phép cộng trừ. Tất nhiên trò có thể đếm mà không cộng trừ, Nhưng nếu giao số lượng việc nhiều thì đếm là mệt mỏi, cộng trừ là cần thiết. Phép nhân đơn giản chỉ là đếm nhiều lần những thứ giống nhau. Phép chia dư và không dư chính là việc chúng chia kẹo bánh cho nhau, … Như thế dù việc học chậm chạp nhưng để lại ấn tượng sâu sắc và mang lại niềm vui vì chúng đã sống như thế và khám phá ra như thế.
      – Dạy làm việc nhóm. Tôi không hiểu sao người ta cứ máy móc chia nhóm để dạy biểu diễn. Đơn giản chỉ là giao thật nhiều bài tập và cho chúng được phép làm chung. Thế là các nhóm ra đời một cách tự nhiên. Người lãnh đạo nhóm cũng xuất hiện một cách tự nhiên mà không phải qua giáo viên bổ nhiệm. Giao công việc khó dần thì vai tro của lãnh đạo nhóm cũng tăng dần và việc thay đổi nhóm trưởng tự nảy sinh do năng lực. Chấm điểm theo sự đóng góp của thành viên nhóm, Thành viên nào đóng góp càng nhiều, có đóng góp ở càng nhiều nhón thì điểm càng cao; tất nhiên là điểm tượng trưng, do học sinh tự nguyện nhất trí công nhận sự đóng góp công sức. Như thế vai trò, quan hệ cá nhân và tập thể nảy sình dần, sự thương lượng cũng tăng dần. Bởi cá nhân cũng cần tập thể và tập thể cũng cần cá nhân; nhưng tập thể cũng hạn chế vai trò cá nhân để cạnh tranh điểm, cá nhân cũng hạn chế vai trò tập thể khi có mặt ở nhiều nhóm khác nhau.

      Những việc làm phải là làm thật chứ không hình thức. Trò phải sống thật trong đúng thời kì xã hội mà nó đang trải qua.
      Nói tóm lại, nhà trường phải là sự mang thai của xã hội.

      Số lượt thích

  10. Trong bài báo mà tôi dẫn dường link ở trên, có đoạn thế này:
    “Trên toàn CHLB Đức có 59% học sinh Việt Nam học Gymnasium, Trong khi đó học sinh Đức chỉ là 43%“ – ông Olaf Beuchling, nhà nghiên cứu khoa học giáo dục, nói. Ông lấy các con số này từ các số liệu của cơ quan thống kê liên bang. Beuchling đang nghiên cứu tại Đại học Tổng hợp Leipzig, đối chiếu các nghiên cứu về giáo dục và đã nhiều năm theo dõi thành tích học tập của học sinh Việt Nam.

    Tại tiểu bang Sachsen, nơi có đông người Việt Nam thì khoảng cách với học sinh Đức lại còn lớn hơn. Tại đây có đến 3/4 học sinh Việt Nam học Gymnasium, trong khi đó đối với học sinh Đức vẫn chỉ là 43%. (Tất nhiên con số này có thể dễ dàng thay đổi vì có nhiều học sinh Việt Nam nhập quốc tịch và do đó số này được tính là người Đức).

    – (Trường Gymnasium / Grammar school (Dành cho những HS khá, giỏi)

    Thời gian học 13 năm, học sinh từ lớp 4 đạt số điểm 2,5 ghi danh trực tiếp vào trường Gymnasium. Lớp 5 đến lớp 10 ( đệ nhất cấp) từ 11 đến 13 ( nhị cấp) hay gọi là Kollegstufe.

    Từ lớp 5 học sinh ngữ một, (học sinh có thể chọn Anh hoặc Pháp văn làm sinh ngữ chính). Từ lớp 7 học thêm sinh ngữ hai, Anh , Pháp văn , La Tinh, tùy ý học sinh chọn lựa

    Chương trình học nặng phần lý thuyết hơn thực hành , các môn học như : khoa học tự nhiên, lịch sử, địa lý, sinh vật, hóa học, vật lý, kinh tế chính trị, nhạc nghệ thuật, văn chương Đức, giáo lý. Được chia ra các ban : khoa học tự nhiên, toán lý hóa, kinh tế sinh ngữ, tất cả các môn học phải đạt điểm như quy định, học sinh phải học đều tất cả các môn dù 2 môn phụ điểm 5 cũng bị ở lại lớp) .

    + ( is a secondary school which pupils attend for nine years and which leads to ABITUR ” the A. level” The final two year at a Gymnasium are known as the Kollegstufe.)

    Số lượt thích

  11. Rất mong HTN kiểm tra hộ tôi mấy comment trong bài “đề xuất triết lý giáo dục” tôi trả lời bác Mạc Văn Trang và “ôn bài” tôi trả lời bạn Quân Nguyễn. Tôi cho rằng tôi đã viết rất chân thành, lời văn lịch sự, không gây phương hại đến cá nhân hay lợi ích dân tộc.

    HTN: Chúng tôi rất cảm ơn sự đóng góp chân thành, liên tục và sự kiên trì của anh Phạm Thắng. Đây là do vấn đề kỹ thuật ngoài mong muốn của Nhóm Biên tập. Chúng tôi rất xin lỗi và sẽ lưu ý để khắc phục. Trân trọng.

    Số lượt thích

    • 😀 😀 Tức quá tức, bác pham thang nhỉ? Mình cố gắng lịch sự quá trời luôn, vậy mà… Riêng phần tôi thì cứ khi nào hơi bất lịch sự thì thấy comment biến mất, cho nên tôi đoán là anh robot admin này ảnh có tâm hồn ! Nhưng mà hóa ra lại là lỗi kỹ thuật, ôi tôi thông cảm lắm nghen. Tôi có mấy cô bạn, hồi xưa, lúc viết bài xong định đem nộp cho giáo sư, lỡ tay ấn phải cái phím nào ấy, bài biến mất luôn, các bạn ấy đau khổ thẫn thờ phải vài ngày mới hòan hồn lại được ! Có anh thì bị trộm lấy mất laptop, trong đó có cái thèse của ảnh, thế là sau này ảnh cũng bỏ thèse luôn. Tôi thấy vậy, bèn bỏ these vào một cái usb cho chắc ăn, sau đó đem cắm vào một cái máy có virus, virus quậy tưng luôn. Tôi bèn tìm cách khác, mở một hòm mail, gửi riêng tất cả bài vở của mình vào đấy. Sau này trong lúc bối rối hỗn độn, quên mất password, thế là giờ này chẳng biết bài vở của mình nó lang thang thơ thẩn ở đâu trên cõi đời này !! Dạ còn nhiều chuyện nữa, mà sợ kể xong comment biến mất thì phí công, nên em xin phép dừng tại đây !

      Số lượt thích

  12. Em đang học sư pham, tương lai của em sẽ là giáo viên. Nghe các bác Phân – Tích: Triết lý giáo dục Vn là gì mà em thấy nhức đầu quá, Rắm rối quá. Chẳng lẽ theo Bắc Phạm Thắng triết lý giáo dục là sự giải nghĩa của các từ: TRIẾT – LÝ – GIÁO – DỤC VÀ RỒI CỘNG LẠI các nghĩa đó. Nếu vậy để em tra từ điển còn tiện hơn, cần gì phải hội thảo.

    Số lượt thích

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Nhập địa chỉ email để nhận thông báo có bài mới từ Học Thế Nào.

%d bloggers like this: