How We Learn

Khái niệm đại học trên thế giới đang thay đổi! – Đàm Quang Minh, Phạm Thị Ly, Phạm Hiệp

(Bài trình bày tại Hội thảo đối thoại giáo dục toàn cầu diễn ra tại Seoul, Hàn Quốc ngày 26/2/2015)

Trên quy mô toàn cầu, hệ thống giáo dục đại học (GDĐH) được biết đến như là đỉnh cao của hệ thống cung cấp tri thức, vai trò của hệ thống này là dẫn dắt các nghiên cứu và định hình nhiều xu thế mới trong xã hội. Các nhà bác học vĩ đại được giải thưởng Nobel hay Fields thường là các giáo sư tại các trường ĐH danh tiếng. Chính vì vậy, qua bao thế kỷ, các trường ĐH nghiên cứu danh tiếng này được coi là những “tháp ngà” để mọi người ngưỡng mộ. Nhưng hiện nay trong bối cảnh toàn cầu đang thay đổi mạnh mẽ, câu hỏi về việc hệ thống ĐH đi về đâu trong tương lai đang liên tục được đặt ra!

Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế tri thức, công nghệ thông tin và sự bùng nổ các phát kiến mới đang khiến cho xã hội thay đổi nhanh chóng. Hệ thống ĐH không phải là ngoại lệ: vai trò của hệ thống ĐH trên thế giới đang thay đổi mãnh liệt. Hàng loạt các tuyên bố từ chính các “tháp ngà” cho rằng chưa bao giờ hệ thống giáo dục ĐH toàn cầu lại chuyển mình nhanh như hiện nay. GS. Delbanco thuộc trường ĐH Columbia với cuốn sách “ĐH đã là gì và sẽ như thế nào?” đã nêu lên những thay đổi căn bản của giáo dục ĐH song hành với sự phát triển của công nghệ thông tin và nền kinh tế tri thức. Mới đây nhất tại Davos ngày 21/1/2015, hiệu trưởng Trường ĐH Harvard, Drew Fraust cũng nêu quan điểm cho rằng giáo dục ĐH đang thay đổi bởi ba lý do chính: sự phát triển của công nghệ, sự thay đổi khái niệm tri thức và sự định nghĩa lại các giá trị của giáo dục.

Nhìn lại lịch sử

Trong thực tế mô hình giáo dục ĐH không phải giữ nguyên từ nguyên thủy đến nay. Những trường ĐH đầu tiên ra đời là để phục vụ cho thần quyền và giới chức chính trị, tôn giáo. Các trường này được gọi là Mô hình trường ĐH Trung cổ và thường được công nhận bởi Giáo hoàng. Điển hình cho các trường đó là ĐH Bologna được thành lập năm 1088, ĐH Paris thành lập năm 1150 và ĐH Oxford năm 1167. Lúc đó trường ĐH chỉ dạy về ba mảng chính là ngữ văn, hùng biện và logic học. Cho đến tận thế kỷ 14, cũng chỉ có thêm một số môn như Y học, Triết học, Số học và Thiên văn học được đưa thêm vào trường ĐH.

Sang đến thế kỷ 15 kéo dài đến thế kỷ 17, sự bùng nổ của cuộc cách mạng “khoa học thực chứng” (nghiên cứu dựa trên thí nghiệm/quan sát và đề cao tính khái quát hoá của kết quả nghiên cứu) thời kỳ Phục Hưng đã làm thay đổi hoàn toàn về nhận thức xã hội mà điển hình nhất là đóng góp của Leonardo da Vinci và sau đó là Galileo, Newton, đã khiến các trường ĐH được mở rộng sang các ngành khoa học tự nhiên. Thời kỳ này các trường ĐH đóng góp một vai trò quan trọng trong việc nghiên cứu khoa học tự nhiên và hàng loạt phát minh được đưa ra từ các phòng thí nghiệm.

Sang thế kỷ 18, cuộc cách mạng công nghiệp đã một lần nữa đẩy các trường ĐH sang một mô hình mới, đó là mô hình ĐH Humboldt. ĐH Humboldt chính là mô hình ĐH nghiên cứu ngày nay được thành lập đầu tiên vào năm 1810. Đã có tới 29 nhà bác học đạt giải Nobel giảng dạy và làm việc tại trường này. Mô hình Humboldt là mô hình đóng góp thành công lớn cho sự phát triển khoa học công nghệ và các trường danh tiếng nhất trên thế giới hiện nay cũng đang theo mô hình này.

Trường ĐH ngày nay đã và đang thay đổi như thế nào?

Như chúng ta thấy, các cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật tất yếu dẫn tới sự thay đổi xã hội trong đó có các trường ĐH. Nếu các cuộc cách mạng như Phục Hưng, Công nghiệp đã gây dựng và mở rộng hơn các mô hình ĐH thì cuộc cách mạng công nghệ ngày nay cũng đang làm điều tương tự. Chúng ta có thể thấy rõ nét những biến chuyển của giáo dục ĐH hiện nay thể hiện qua các khía cạnh: cạnh tranh giáo dục toàn cầu, sự thay đổi trong môi trường học tập và nghiên cứu, trong vai trò của người dạy và người học.

Đầu tiên có thể nói đến việc giáo dục ngày nay đã trở nên một cuộc chơi cạnh tranh toàn cầu, các trường hàng đầu như Havard, Standford, Oxford, … tự hào vì họ tuyển chọn được những sinh viên giỏi nhất trên quy mô toàn thế giới. Nhiều quốc gia như Mỹ, Úc, Anh, Singapore, Malaysia … coi giáo dục là một ngành kinh tế xanh, sạch, nhiều tiềm năng. Hàng loạt các trường có uy tín như ĐH Nottingham, Liverpool, RMIT đã ra nước ngoài mở cơ sở đào tạo (xem bảng 1). Nhiều trường ĐH có tới cả chục campus khác nhau để tăng sự hiện diện, mở rộng tầm ảnh hưởng. Bên cạnh đó là sự hình thành của một loại hình mới cạnh tranh với hệ thống cũ như liên minh các trường hay một dạng được tổ chức như tập đoàn toàn cầu, ví dụ như Hệ thống ĐH của Laureate Education. Hệ thống này hiện đã có mặt tại 21 quốc gia với 37 cơ sở đào tạo. Tư duy không chỉ một cơ sở mà cần mở rộng trong phạm vi quốc gia và thậm chí là toàn cầu đang phát triển.

Môi trường học tập ĐH cũng đang thay đổi đáng kể. Trước đây, trung tâm của một trường ĐH là hệ thống thư viện và kho tư liệu đồ sộ. Hình ảnh thư viện sáng đèn từ sáng đến tối là hình ảnh điển hình cho việc học tập bậc ĐH. Nếu như trước đây phải mất một hành trình dài và tốn kém, các trường ĐH mới có được hệ thống tài liệu như vậy, thì ngày nay, một trường ĐH bất kỳ cũng có thể có cả triệu đầu tài liệu với thư viện điện tử ngay lập tức với mức đầu tư vừa phải. Sinh viên ngày nay không nhất thiết phải lên thư viện mà có thể ở bất kỳ đâu để tra cứu và học tập. Hơn thế, sự phát triển công nghệ thông tin và công nghệ giáo dục còn đưa đến những phương thức học tập khác như học tập tích hợp (blended learning) hay các khóa học mở đại chúng (MOOC). Điều thú vị là chính các trường hàng đầu như MIT, Harvard, Standford, … lại là những người tích cực nhất trong việc đầu tư vào MOOC với sự ra đời của Coursera và edX. Các khóa học này đã làm thay đổi quan niệm trước đây về môi trường học tập . Mỗi khóa MOOC có thể có tới 100.000 người cùng tham gia học tập cùng một lúc, số sinh viên của riêng một khóa học đã nhiều hơn rất nhiều trường ĐH hiện nay.

Môi trường nghiên cứu hiện nay cũng bắt đầu thay đổi. Trọng tâm của nghiên cứu đang dịch chuyển dần từ các trường ĐH, viện nghiên cứu sang các doanh nghiệp, tập đoàn lớn như Apple, Samsung, Google, các hãng dược phẩm và kể cả những công ty khởi nghiệp. Quỹ cho nghiên cứu của các đơn vị này tăng theo cấp số nhân trong khi đó đầu tư chính phủ cho nghiên cứu ngày càng thu hẹp. Điều này đã dẫn tới việc hoạt động nghiên cứu tại các trường ĐH đang trở thành bị chiếm lĩnh như là công việc làm thuê cho các doanh nghiệp có tiền đầu tư cho nghiên cứu – phát triển. Điều này làm thay đổi cả trọng tâm lẫn bản chất và phương thức của hoạt động nghiên cứu khoa học.

Điểm sau cùng là quan hệ giữa người dạy và người học cũng thay đổi một cách cơ bản. Kiến thức ngày nay không còn là độc quyền của người thầy mà sinh viên hoàn toàn có thể tự kiểm chứng tất cả những điều mình học gần như ngay lập tức. Vai trò người dạy chuyển từ truyền đạt kiến thức sang người hướng dẫn và tổ chức các hoạt động trải nghiệm để người học có thể xây dựng kỹ năng và kiến thức cho riêng mình. Sự phát triển nhanh chóng của tri thức mới cũng khiến cho việc học tập trở nên học tập suốt đời để luôn cập nhật được những kiến thức mới nhất. Sinh viên ngày nay được khuyến khích tự trải nghiệm bằng cách mở rộng hoạt động ra bên ngoài thay vì tập trung vào chỉ học tập trong trường như trước đây.

Xét một cách khách quan, quá trình biến đổi của hệ thống ĐH đã bắt đầu và sẽ phát triển theo những dạng thức khác hơn mang nhiều tính đại chúng, toàn cầu và công nghệ. Quá trình này sẽ giống như các bước phát triển trước đây, bên cạnh các mảng “truyền thống”, hệ thống ĐH sẽ được bổ sung những phương thức mới và cả những xu thế mới như công nghệ hay sáng tạo. Liệu quá trình tiến hóa này sẽ đi đến đâu và trường nào sẽ bị bỏ rơi lại và đào thải dần?

Tái định hình một quan niệm mới về trường ĐH

Những thay đổi trên đây đã diễn ra dưới áp lực đòi hỏi của nền kinh tế tri thức và trở thành hiện thực nhờ những tiến bộ của khoa học công nghệ hiện đại. Nền kinh tế tri thức trong thời đại toàn cầu hóa đòi hỏi những kỹ năng mới (kỹ năng sử dụng công cụ kỹ thuật số, kỹ năng làm việc nhóm, truyền thông giao tiếp, sáng tạo, tư duy khởi nghiệp,…) và những năng lực mới (năng lực lãnh đạo, tầm nhìn toàn cầu). Ngày nay người ta không chỉ cần trí thông minh logic và toán học, mà còn là trí thông minh ngôn ngữ, không gian, âm nhạc, trí thông minh liên nhân và cảm xúc.v.v. để có thể tồn tại và phát triển trong một môi trường sống và làm việc ngày càng đa diện và phức tạp. Ngày nay, học tập suốt đời trở thành nhu cầu tất yếu, điều quan trọng đối với mọi cá nhân (và đặc biệt là với các trường ĐH) không chỉ là khả năng tiếp thu cái mới mà còn là khả năng gỡ bỏ cái cũ. Như nhà tương lai học Alvin Toffler từng nói: “Những người được xem là mù chữ trong thế kỷ 21 không phải là những người không biết đọc biết viết, mà là những người không có khả năng từ bỏ cái đã học và học cái mới”.

Vì vậy, lối dạy và học của nhà trường truyền thống thiên về truyền thụ kiến thức và đào tạo kỹ năng chuyên môn không thể đáp ứng những đòi hỏi ấy. Trường ĐH của tương lai không nhằm vào truyền thụ kiến thức và đào tạo kỹ năng chuyên môn, mà nhằm vào những kỹ năng sống và năng lực công dân, nhằm vào khả năng học tập suốt đời. Nó tận dụng mọi cơ hội mà khoa học công nghệ mang lại để đào tạo trực tuyến. Nó biến đổi thành nhiều hình thái để phục vụ nhiều nhu cầu và đối tượng đa dạng.

Nếu như vài thập niên trước đây, và kể cả hiện nay,  mô hình trường ĐH nghiên cứu kiểu Humboltd được coi là hình mẫu lý tưởng của khái niệm “ĐH”: nơi đào tạo giới tinh hoa nhằm lãnh đạo xã hội, nơi sáng tạo tri thức mới và đào tạo các nhà khoa học, thì ngày nay, trường ĐH đã trở nên một thực thể đa dạng hơn rất nhiều trên mọi phương diện. Bên cạnh những tháp ngà truyền thống vẫn đang tồn tại, nhiều trường ĐH ngày nay đã thay đổi về mục tiêu và phương thức hoạt động. Nó không chỉ nhằm vào một thiểu số tinh hoa như trước, mà nhằm vào huấn luyện kỹ năng cho số đông. Nó không còn giới hạn trong một khuôn viên, một quốc gia, mà vươn ra toàn cầu. Nó không chỉ có lớp học, giảng đường, thư viện, mà có webinar, có học tập trực tuyến. Nó không còn được nhà nước bao cấp như trước đây, mà ngày càng tiến về phía thị trường, ngày càng thể hiện rõ nét tính chất dịch vụ: trong hai vế hàng hóa công và lợi ích tư, thì ý nghĩa lợi ích tư của GDĐH đang ngày càng chiếm ưu thế. Chính vì lẽ đó khái niệm GDĐH vì lợi nhuận hầu như không tồn tại trong cả ngàn năm lịch sử phát triển GDĐH ở phương Tây, gần đây bắt đầu được chấp nhận rộng rãi, đặc biệt là ở Đông Á. Và điều quan trọng nhất là: trường ĐH không còn là nguồn độc nhất hay chủ yếu tạo ra tri thức và truyền đạt tri thức như trước nữa.

Vì lẽ đó, quan niệm về trường ĐH cũng cần thay đổi. Thay đổi không có nghĩa là phủ nhận khái niệm ĐH như được hiểu trước đây, mà là mở rộng hơn, thừa nhận sự phát triển những hình thái đa dạng của ĐH. Một mặt chúng ta không bó hẹp quan niệm của mình trong những hình thức của trường ĐH truyền thống, mặt khác, cần bảo toàn những giá trị cốt lõi của trường ĐH trong những hình thái đa dạng của ĐH ngày nay. Điều này có ý nghĩa rất quan trọng đối với các nhà làm chính sách: một quan niệm chấp nhận sự đa dạng như vậy sẽ là tiền đề để tái cấu trúc hệ thống như một hệ sinh thái bao gồm nhiều loại trường khác nhau với những sứ mạng khác nhau và bổ sung cho nhau. Nó cũng rất quan trọng đối với các nhà lãnh đạo của từng trường ĐH: nhận thức về những biến đổi của bối cảnh sẽ thúc đẩy những chiến lược đáp ứng phù hợp của các trường và tăng cường cơ hội sinh tồn của họ.

Tài liệu tham khảo

Barber, M., Donnelly, K., Rizvi, S., & Summers, L. (2013). An avalanche is coming: Higher education and the revolution ahead.

 

Drew Gilpin Faust, “Ba lực lượng định hình trường ĐH của tương lai”. Bài phát biểu tại Diễn đàn Kinh tế Thế giới tại Davos, Thụy Sĩ ngày 21 tháng 1 năm 2015. Nguồn: https://agenda.weforum.org/2015/01/three-forces-shaping-the-university-of-the-future/

Jamil Salmi, “The Evolving Relationship between State and Quality Assurance”. Bài trình bày tại Viện Giáo dục Quốc tế Hoa Kỳ, Washington DC, 21.02.2015.

Guardian Higher Education Network. The University of 2020: Predicting the Future of Higher Education. Nguồn:  http://www.theguardian.com/higher-education-network/blog/2012/aug/24/higher-education-in-2020

Hussey, T. & Smith, P. (2010) The trouble with higher education: a critical examination of our universities.

Advertisements

Tagged as: , ,

17 phản hồi »

  1. Các lý thuyết và khái niệm, định nghĩa về GDdH là của TK 20, không phù hợp với với tốc độ phát triển của nền kinh tế tri thức ở TK 21. Điều này đã được các nhà khoa học GD của Mỹ công nhận và nó đings với cả nước Mỹ! Tôi rất thích khái niêm mới về ngừoi mù chữ ở đầu TK 21, và phải thêm là hầu hết các nhà lãnh đạo GD của VN đều đang mù chữ theo kiểu này mà chính họ cứ tự cho mình là sáng nhất, thích hô khẩu hiệu ĐM mà không biết ĐM cái gì cả, không rõ bắt đầu từ đâu và đi đến đâu!

    Số lượt thích

  2. Xin cảm ơn tác giả!

    Một bài viết công phu, nhất là đoạn nói về sự thay đổi của môi trường học tập, nghiên cứu, sự thay đổi vai trò của người dạy từ truyền đạt kiến thức sang người định hướng, hướng dẫn…

    Chỉ xin được phản biện một câu ở phần đầu:
    “Các nhà bác học vĩ đại được giải thưởng Nobel hay Fields thường là các giáo sư tại các trường đại học danh tiếng.”

    Được giải thưởng Nobel hay Fields chưa chắc đã là bác học, thậm chí chưa chắc đã là tiến sĩ (người tài) hay giáo sư (người tài và có công).

    Bác học là danh xưng do người đời phong tặng cho người có kiến thức uyên bác (sâu rộng). Phải có trình độ giáo sư (tài và tâm) của rất nhiều ngành mới được gọi là bác học (học rộng). Gần nghĩa với từ “nhà thông thái” của Ba Tư.

    Einstein mới chỉ là giáo sư (khoa học tự nhiên). Ông đạt giải Nobel khi giải thích hiện tượng quang điện. Dù có rất nhiều ý kiến phong cho ông là bác học, vì những kiến thức của ông về kinh tế, chính trị, văn hóa và tôn giáo.

    Số lượt thích

  3. con gọi mẹ hoàng sa
    giữa vùng nước bao la
    dưới bầu trời xanh biếc
    mênh mông biển thái hòa.

    hỏi học gì tốt nhất?
    mẹ rằng học chữ tôi:
    trong tôi tôi có bạn
    trong bạn bạn có tôi.

    khoan dung là chấp nhận
    chấp nhận tất cả là
    anh chị em bốn bể
    chung bốn bể một nhà.

    Số lượt thích

  4. Cảm ơn bài viết rất chi tiết của các tác giả.

    Trong tình hình mới hiện nay thì đích thị khái niệm đại học phải thay đổi.
    Hi vọng giáo dục Việt Nam sẽ sớm được thay đổi. Vận mệnh của đất nước ở con người, mà con người thì từ giáo dục mà ra.

    Số lượt thích

  5. “Vai trò người dạy chuyển từ truyền đạt kiến thức sang người hướng dẫn và tổ chức các hoạt động trải nghiệm để người học có thể xây dựng kỹ năng và kiến thức cho riêng mình.”

    –> Cái này hình như là không phải tác động của công nghệ. Mình đi du học không mấy khi đang ngồi trong lớp mà mở máy ra hí hoáy tra cứu cả. Ngồi nghe giảng thì tập trung nghe giảng, thảo luận thì tập trung thảo luận thôi. “Truyền đạt” hay “hướng dẫn và tổ chức” là quan điểm giáo dục của từng thầy thôi.

    Số lượt thích

  6. Bài này khá lộn xộn, mình nghĩ là do trộn lẫn thông tin về giáo dục đại học ở các nước tiên tiến với kinh nghiệm ở Việt Nam.

    Có đoạn:

    “hệ thống giáo dục đại học (GDĐH) được biết đến như là đỉnh cao của hệ thống cung cấp tri thức, vai trò của hệ thống này là dẫn dắt các nghiên cứu và định hình nhiều xu thế mới trong xã hội”

    rồi sau đó lại có:

    “…lối dạy và học của nhà trường truyền thống thiên về truyền thụ kiến thức và đào tạo kỹ năng chuyên môn…”

    Hai ý này rõ là mâu thuẫn nhau. Với cách dạy đó làm sao đạt được “đỉnh cao”, “cung cấp tri thức”, “dẫn dắt”, “định hình”? Ý trên là nói về các đại học tốt trên thế giới còn ý dưới rõ là của VN. Lối dạy và học truyền thống của các trường tốp trên thế giới chắc không giống VN rồi.

    Số lượt thích

    • Bạn biết câu “không có nhất chỉ có hơn” không? Cái đỉnh cao ở đây mình cho là một cái đỉnh “tạm thời” “so với” những cái đỉnh đang có (và nhất là ở Việt Nam bạn nhỉ?). Và vì tính tạm thời mà có thể lỗi thời, không gì là tuyệt đối.
      Nghĩa là nó (GDĐH) có thể xem là tạm chấp nhận được với cái vai trò, cương vị (“dẫn dắt”, “định hình”) rất quan trọng mà nó phải mang. Nhưng về lâu về dài nó rõ ràng không hoàn hảo và phải liên tục được hoàn thiện.
      Nếu nói về câu chữ chi li ở đây, cá nhân mình không thấy mâu thuẫn đâu. Vì ý đầu tiên có cụm từ “được biết đến như là”, ý chỉ một sự giả định, một sự quy kết, rằng GDĐH nên là như thế đấy.
      Còn ý thứ hai là thực trạng của GDĐH, rõ ràng nó nên như thế, nhưng thực tế nó không được như thế.

      Số lượt thích

      • Mình nói thế là vì mình nghĩ câu “…lối dạy và học của nhà trường truyền thống thiên về truyền thụ kiến thức và đào tạo kỹ năng chuyên môn…” không đúng với nền giáo dục đại học ở các nước tiên tiến. Câu này nói về ĐH ở VN thì đúng hơn. Người ta đã biết đẩy mạnh nghiên cứu và sáng tạo trong đại học lâu rồi, kể cả việc thúc đẩy các hoạt động ngoài chuyên môn (xã hội, thể thao, nghệ thuật) thì các trường ở Mỹ cũng rất mạnh. Bài viết cần phân định rạch ròi hơn chỗ nào nói về “thế giới”, chỗ nào nói về Việt Nam.

        Còn nếu bạn không dựa vào thực tế mà vặn vẹo câu chữ thì nói kiểu gì cũng hợp lý hết.

        Số lượt thích

        • Đúng vậy. không vặn vẹo câu chữ. Nhưng mình nghĩ là bạn bắt đầu trước. Có thể là bạn thấy có sự lẫn lộn khi tác giả nói về giáo dục Việt Nam với giáo dục các nước tiên tiến (một điều không cần thiết phải tranh cãi). Ok.
          Thực tế rõ ràng là, giáo dục Việt Nam là một cái đỉnh cao không – thể – nói – là – tốt ở – Việt – Nam. Và cũng rõ ràng nữa là, giáo dục các nước tiên tiến là một cái đỉnh cao phải – nói – là rất – tốt và đáng thèm khát.
          Chắc bạn cũng đồng ý rằng một hệ thống tốt (đỉnh cao) không có nghĩa là hoàn hảo, không có nghĩa là hệ thống đó sẽ giữ mãi cấu trúc của nó, không có nghĩa là nó sẽ không được người ta tìm cách cải tiến theo cách mà người ta thấy thích hợp với người ta (mà rất có thể sẽ không thích hợp với cách mà bạn nghĩ rằng “đại học” là phải thế này thế kia).
          Xin lỗi nếu mà mình vặn vẹo câu chữ nhé. Mình không định như vậy.

          Số lượt thích

        • Có thể là bạn đúng, mình chỉ nói là bài này viết không rõ ràng chuyện đoạn nào nói về cái gì và bạn đồng ý với điều đó. Vậy chúng ta dừng cuộc thảo luận ở đây nhé? Cảm ơn!

          Số lượt thích

  7. Đoạn này vô lý quá:

    “Trường ĐH của tương lai không nhằm vào truyền thụ kiến thức và đào tạo kỹ năng chuyên môn, mà nhằm vào những kỹ năng sống và năng lực công dân, nhằm vào khả năng học tập suốt đời.”

    Trường ĐH là nơi chuyên môn hoá rất cao mà lại không tập trung vào chuyên môn? Vậy thì cần gì khoa Điện tử, CN Thông tin, Hoá học, Vật lý, CN Sinh học, Ngoại ngữ, v.v… nữa? Gộp hết vào thành trường phổ thông cấp 4 cho rồi.

    Số lượt thích

    • Vâng ạ, câu trên thiếu hai chữ: “Trường ĐH của tương lai không chỉ nhằm vào truyền thụ kiến thức và đào tạo kỹ năng chuyên môn, mà còn nhằm vào những kỹ năng sống và năng lực công dân, nhằm vào khả năng học tập suốt đời” mới đúng ạ. Xin cảm ơn đã góp ý.

      Số lượt thích

    • Mình nghĩ là hãy đặt đoạn này trong toàn bộ bối cảnh.
      Và bối cảnh người viết đang đề cập đến, xin phép được nhắc lại, là một bối cảnh toàn cầu hóa.
      Và như thế nghĩa là thế nào? như thế nghĩa là, bạn có thể lấy tất cả kiến thức mà bạn muốn từ bất cứ đâu, điện tử này, cn thông tin này, hóa học ,vật lý, công nghệ sinh học này, … tùy ý bạn, với một mức phí cực thấp. Bạn không bị giới hạn bởi việc phải theo một ông thầy nào đó với mớ sách bí kíp bí truyền nào đó, (đến đây mình mới thấy cái sự nhân văn trong giáo dục thực sự bạn ạ).
      Hình thức giáo dục kiểu cũ, như mấy cái kiểu mà chúng ta đều biết (và ớn) ấy, nghĩa là tập trung lại một chỗ, nghĩa là một hệ thống dạy cực kỳ chi li lý thuyết sách vở, cực kỳ kém cập nhật và năng động, nghĩa là nếu tôi là một bà bán xôi khoảng U40 thì tôi sẽ mãi thấp kém và không bao giờ, không bao giờ tôi mơ được đến chuyện tiếp cận với những gì tôi muốn học. Mọi cánh cửa đều đóng lại với tôi (đừng bảo tôi cái xã hội ta nó không phải vậy).
      Mình hoàn toàn ủng hộ kiểu giáo dục mới này, không chỉ vì nó thích nghi được với tương lại (cả hiện tại nữa) mà còn vì tính nhân bản mà vốn hai chữ giáo dục phải có.
      Và nữa, bạn nói đến cái gì cơ? “trường phổ thông cấp 4” á? mình có thể hiểu ý bạn là “truyền đạt kỹ năng sống, năng lực công dân và khả năng học tập suốt đời” là ba cái trò ba láp, thấp kém chưa đủ quan trọng, kiểu như học mấy tiết “giáo dục con dâu” ở trường phổ thông là ok rồi. Mình hiểu thế phải không? Giả sử mình hiểu đúng nhé. Vậy bạn làm như mấy cái “trò ba láp ấy” phổ thông nhà bạn đã thực sự làm được gì (chứ đừng bảo là chưa tốt lắm) nhé!

      Số lượt thích

  8. Bài này nêu vấn đề thời sự của GDĐH hiện nay, do cơ chế nên trong đào tạo ĐH của VN chưa mở và liên kết. Vẫn còn tình trạng ở các trường công, mỗi trường muốn giữ một sân.

    Số lượt thích

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Nhập địa chỉ email để nhận thông báo có bài mới từ Học Thế Nào.

%d bloggers like this: